- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Trần Đức P - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2022/HNGD-ST Ngày: 29/09/2022 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Biện Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quang.
2. Ông Nguyễn Phú Thạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Tòa án nhân thị xã L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L: Bà Trần Thị Xuân – Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 29 tháng 09 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 252/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 05 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 09 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm: 1977;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức P – sinh năm: 1976;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, tại đơn khởi kiện đề ngày 12/05/2022 và trong quá trình chuẩn bị xét xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đức P tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông P thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn rồi về gây gỗ đập phá tài sản trong nhà và đánh đập bà L. Dù cố gắng hòa giải để sống chung với nhau nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm ngày càng rạn nứt. Nay bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn với ông P.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Đông (Giới tính nam), sinh ngày: 24/06/2001. Vì con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên bà L không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Quá trình chuẩn bị xét xử bị đơn ông Nguyễn Đức P có đơn xin xét vắng mặt, tại bản tự khai ông P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian tìm hiểu, sống chung, năm đăng ký kết hôn và nơi đăng ký kết hôn như lời trình bày của bà L là đúng. Ông P thừa nhận có nhậu nhẹt, uống rượu bia nhưng ở mức độ vừa phải. Vợ chồng cũng có mâu thuẫn xích mích nhưng không đến nổi phải ly hôn. Nêu bà L nhất quyết yêu cầu ly hôn thì ông P không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án cắn cứ quy định pháp luật để giải quyết.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Đông (Giới tính nam), sinh ngày: 24/06/2001. Vì con đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đảm bảo cho việc ra quyết định, bản án đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền, nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn, trước khi mở phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định khoản 01 Điều 228 Bố luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu ly hôn của bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Đức P đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông P cự trú tại thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo điểm a khoản 01 Điều 35; khoản 01 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của bà L và ông P: Trước khi mở phiên tòa bà L và ông P đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc xin vắng mặt là ý chí, nguyện vọng của nguyên đơn, bị đơn. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo quy định khoản 01 Điều 228 Bố luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đức P đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 16/03/2012. Trong thời gian chung sống vợ chồng bà L trình bày ông bà không hợp nhau, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông P thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn rồi về gây gỗ đập phá tài sản trong nhà và đánh đập bà L. Ông P cũng thừa nhận, ông có có nhậu nhẹt nhưng ở mức độ vừa phải, vợ chồng sống với nhau cũng có xảy mâu thuẫn. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông P là có thật. Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau nhưng thực tế cuộc sống hôn nhân của bà L và ông P không còn hạnh phúc, ông bà không còn quan tâm, tôn trọng, tin tưởng nhau nên hạnh phúc gia đình ngày càng rạn nứt. Việc bà L khởi kiện yêu cầu được ly hôn thì ông P không có ý kiến gì.
Xét thấy, mâu thuẫn của bà L và ông P đã làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông P là hoàn toàn chính đáng nên được chấp nhận.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Văn Đông (Giới tính nam), sinh ngày: 24/06/2001. Vì con đã trưởng thành, có khả năng lao động bà L và ông P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 05 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28; Điểm a khoản 01 Điều 35; Khoản 01 Điều 39; Điều 147; Khoản 01 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 05 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn ông Nguyễn Đức P.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0005115 ngày 23/05/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L thu. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7A,7B và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo bản án của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Đức P là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thị xã L; - Chi cục THA dân sự thị xã L; - UBND nơi đăng ký kết hôn: UBND xã T, thị xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Biện Việt Hùng |