vanban.org

Bản án 47/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Võ Anh T và chị Quách Thị Tiền S.

Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) cháu Võ Khánh D, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2005 và Võ Thuận P, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2009 cho anh Võ Anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Quách Thị Tiền S không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Quách Thị Tiền S có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi con giữa Võ Anh T - Quách Thị Tiền S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Võ Anh T và chị Quách Thị Tiền S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 47/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-6-2022
V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trƣơng Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đinh Cƣờng

2. Ông Dƣơng Sinh Huy

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2022/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022. Về việc: Tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Võ Anh T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

2. Bị đơn: Chị Quách Thị Tiền S, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Võ Anh T trình bày: Vào năm 2004, anh và chị S kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 20 tháng 4 năm 2007. Anh T cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến năm 2010 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay. Anh T xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị S.

Về nuôi con chung anh T xác định anh và chị S có 02 (hai) người con chung là cháu Võ Khánh D, sinh ngày 07/12/2005 và Võ Thuận P, sinh ngày 04/6/2009, hiện đang sống với anh. Khi ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Võ Khánh D và Võ Thuận P, anh T không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình anh T đã cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số: 27, Quyển số 01/2007 ngày 20 tháng 4 năm 2007 (bản chính) và 02 (hai) giấy khai sinh mang tên Võ Khánh D và Võ Thuận P (bản photo có chứng thực).

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho bị đơn chị S biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của anh T. Nhưng chị S không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 08 tháng 4 năm 2022; ngày 11 tháng 5 năm 2022; phiên tòa ngày 30 tháng 5 năm 2022 và phiên tòa ngày hôm nay. Mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ.

Tại biên bản về phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 08 tháng 4 năm 2022, các cháu Võ Khánh D và Võ Thuận P trình bày: Trường hợp cha mẹ các cháu phải ly hôn thì các cháu yêu cầu được sống với cha và không yêu cầu mẹ cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Các đương sự tranh chấp ly hôn, về nuôi con là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn chị S có nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn chị S đều vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn chị S là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Vào năm 2004, anh T và chị S kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 20 tháng 4 năm 2007. Vì vậy hôn nhân của anh T và chị S là hợp pháp.

Xét; việc anh T cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến năm 2010 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau, dẫn đến thường xuyên gây cãi. Từ đó, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trâm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay anh T xác định anh không còn tình cảm với chị S và hai người đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc anh T yêu cầu được ly hôn với chị S là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về nuôi con chung: Xét; Từ khi anh T và chị S ly thân đến nay thì hai cháu Võ Khánh D và Võ Thuận P do anh T nuôi dưỡng, các cháu vẫn sống, phát triển và trưởng thành bình thường. Đồng thời, hiện nay hai cháu Võ Khánh D và Võ Thuận P cũng có nguyện vọng muốn được sống với cha. Vì vậy, xét việc anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Võ Khánh D và Võ Thuận P và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Về chia tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9; 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Võ Anh T và chị Quách Thị Tiền S.

2. Về nuôi con chung: Giao 02 (hai) cháu Võ Khánh D, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2005 và Võ Thuận P, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2009 cho anh Võ Anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Quách Thị Tiền S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Quách Thị Tiền S có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Võ Anh T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006966 ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy anh Võ Anh T không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ