vanban.org

Bản án 47/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

Buộc bị đơn Bà Lý Ánh X có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền vốn và lãi còn nợ tổng cộng là: 101.402.596 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 94.700.000đồng. Số tiền lãi: 6.702.596 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 6.382.936 đồng; Lãi quá hạn: 319.660 đồng. Kể từ ngày 29/7/2022 Bà Lý Ánh X còn phải t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "BAN AN NGAN HANG N - LY ANH X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/DS-ST
Ngày 28-7-2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Tuyền

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Phước

Ông Hà Văn Châu

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thúy Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 55/2022/TLST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: Số H đường L, phường T, Quận B,

Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Tuấn A (có mặt)– Cán bộ pháp chế Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng; Trú tại số H, đường T, phường H, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo văn bản uỷ quyền số 771/GUQ-NHNOST-TH ngày 09 tháng 5 năm 2022 của Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng).

- Bị đơn: Bà Lý Ánh X, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Đi ̣a chi: B đường T, Khóm H, Phường N, thành phố P, tỉnh Sóc Trăng.̉

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2022 của nguyên đơn Ngân hàng N, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Tuấn A trình bày:

Ngày 22/9/2021, Bà Lý Ánh X có ký Hợp đồng tín dụng số 7600LAV202100845 với số tiền cho vay là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), thời hạn cho vay là 60 tháng, kể từ ngày ký đến hết ngày 21/9/2026. Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa chữa nội thất nhà ở, lãi suất cho vay là 10,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150%/lãi trong hạn, lãi chậm trả 5%/năm. Tính đến ngày 28/7/2022, Bà Lý Ánh X còn nợ Ngân hàng N – Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng tổng số tiền là: 101.402.596 đồng, trong đó:

- Tổng số tiền nhận nợ: 100.000.000 đồng.

- Số tiền gốc đã thanh toán: 5.300.000 đồng.

- Số tiền gốc chưa thanh toán: 94.700.000đồng.

- Số tiền lãi đã thanh toán tính đến ngày 31/3/2022:1.980.000đồng.

- Số tiền lãi phát sinh tính đến ngày 28/7/2022: 6.702.596 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 6.382.936 đồng; Lãi quá hạn: 319.660 đồng.

Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng đã nhiều lần đến nhà làm việc trực tiếp yêu cầu cho Bà Lý Ánh X thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7600LAV202100845 ngày 22/9/2021. Tuy nhiên, tính đến nay, Bà Lý Ánh X vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng, vi phạm nghĩa vụ đã cam kết, cố tình rời khỏi địa phương, hiện số tiền vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 29/12/2021 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng giải quyết: Buộc Bà Lý Ánh X phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại Hợp đồng tín dụng 7600LAV202100845 ngày 22/9/2021cho Ngân hàng N, do Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng đại diện nhận với số tiền tạm tính đến ngày 28/7/2022 là: 101.402.596 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 94.700.000đồng. Số tiền lãi: 6.702.596 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 6.382.936 đồng; Lãi quá hạn: 319.660 đồng. Đồng thời buộc Bà Lý Ánh X phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán hết nợ.

- Bị đơn Bà Lý Ánh X từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không phản đối những tình tiết sự kiện mà nguyên đơn đưa ra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa bị đơn Bà Lý Ánh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn X.

[2] Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do nguyên đơn cung cấp, căn cứ khoản 2 Điều 92; khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử công nhận trên thực tế giữa Ngân hàng và Bà Lý Ánh X có giao kết Hợp đồng tính dụng số 7600LAV202100845 ngày 22/9/2021 và Bà Lý Ánh X đã nhận đủ số tiền gốc 100.000.000 đồng lãi suất cho vay là 10,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150%/lãi trong hạn, lãi chậm trả 5%/năm. Sau khi vay bị đơn chỉ trả được số tiền vốn là 5.300.000 đồng và 1.980.000 đồng tiền lãi cho Ngân hàng, tính đến ngày 28/7/2022 bà Xuân còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là: 101.402.596 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 94.700.000đồng. Số tiền lãi: 6.702.596 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 6.382.936 đồng; Lãi quá hạn: 319.660 đồng.

Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ. Do bà X vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc Ngân hàng yêu cầu trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ phù hợp với thỏa thuận tại các Điều 5 của hợp đồng tín dụng và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 13; Điều 18; Điều 27; Điều 30 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Như đã phân tích nêu trên lời đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí. Bị đơn Bà Lý Ánh X phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 5.070.129 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, các Điều 92; 95, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 13; Điều 18; Điều 27; Điều 30 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

2. Buộc bị đơn Bà Lý Ánh X có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N số tiền vốn và lãi còn nợ tổng cộng là: 101.402.596 đồng, trong đó: Số tiền gốc: 94.700.000đồng. Số tiền lãi: 6.702.596 đồng. Trong đó: Lãi trong hạn: 6.382.936 đồng; Lãi quá hạn: 319.660 đồng.

Kể từ ngày 29/7/2022 Bà Lý Ánh X còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bà X phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.451.000 đồng theo biên lai thu số 0000439 ngày 19/4/2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn Bà Lý Ánh X phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 5.070.129 đồng.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ