- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Sáng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HSST Ngày: 28 - 4- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Hiến;
2. Bà Lê Thị Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 37/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình S, tên gọi khác: Bảy S, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1983 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Th (đã chết), con bà Nguyễn Thị E (Nguyễn Thị H); vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; con Nguyễn Đình T, sinh năm 2011;
Tiền án: có 01 tiền án, cụ thể: Bản án số 90/2018/HSST ngày 30/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt Nguyễn Đình S 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Bản án số 06/2002/HSST ngày 06/3/2002, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Bản án số 65/2007/HSST ngày 29/11/2007, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Bản án số 09/2013/HSST ngày 15/3/2013, Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử 48 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2020, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2020, Nguyễn Đình S đến kiệt 44 Trần Hưng Đạo (Thuộc Khu phố 2, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) gặp một nam thanh niên tên C (Không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy hồng phiến và 600.000 đồng ma túy Heroine. C bán cho S 05 viên ma túy hồng phiến với giá 200.000 đồng và 600.000 ma túy Heroine. Đến 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi S đang ở địa chỉ: Đường Nguyễn Thái Học (Thuộc Khu phố 3, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị) thì bị Công an thành phố Đông Hà bắt quả tang khi đang tàng trữ số ma túy trên.
Tại Bản kết luận giám định số 32/KLGĐ ngày 23/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 05 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY được niêm phong trong phong bì ký hiệm M có khối lượng 0,4958g là ma túy Methamphetamine.
Chất rắn màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệm M1 có khối lượng 0,4474 gam là ma túy Heroine.
Cáo trạng số 42/CT-VKS-ĐH ngày 02/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Nguyễn Đình S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Đình S từ 24 đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chứa ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định ký hiệu PS3A 057999 có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút 19/12/2020, tại Đường Nguyễn Thái Học (Thuộc Khu phố 3, Phường 1, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị), Công an thành phố Đông Hà bắt quả tang Nguyễn Đình S tàng trữ 05 viên ma túy hồng phiến và 01 gói ma túy Heroine được cất giấu trong túi áo khoác của bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của một nam thanh niên tên C (Không rõ lai lịch, địa chỉ) vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 19/12/2020 để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
Theo kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 05 viên nén hình tròn, màu hồng có khối lượng 0,4958g là ma túy Methamphetamine và chất rắn màu trắng có khối lượng 0,4474 gam là ma túy Heroine. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy hiện đang là một trong những tệ nạn bức xúc nhất của xã hội, gây tác hại rất nhiều mặt đến đời sống kinh tế, làm mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân sống trên địa bàn và là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chịu 01 tình tiết tăng nặng, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt của các bản án, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội đã thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để răn đe, cải tạo và giáo dục bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 057999 đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Đối với nam thanh niên bán ma túy tên C do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý theo quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Đình S: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu PS3A 057999 đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
(Số vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - CA, VKSND, CCTHADS TP. Đông Hà; - Trại giam công an tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vũ Xuân |