vanban.org

Bản án 47/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Nguyễn Thị D 07 (B y) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN LẠC
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 47/2021/HSST
Ngày 16 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LAC, TỈNH VĨNH PHÚC.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Kh m và ông Bùi Văn Tám.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Tiệp là Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Đào Xuân Hiếu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s : 48/2021/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm s : 51/2021/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2021 đ i với bị cáo:

Nguyễn Thị D, sinh ngày 13/11/1961; sinh quán: Xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; trú quán: xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu D (đã chết) và con bà Nguyễn Thị N (đã chết); có chồng là Nguyễn Xuân T và có 02 con, con lớn sinh năm 1987 con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không.

Hiện nay, bị cáo đang tại ngoại, (có mặt).

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Kho ng 17 giờ 30 phút ngày 02/6/2021, Nguyễn Thị D đang ở nhà thì có Phạm Tuấn V ở thôn D, xã Đ và Nguyễn Văn L ở thôn C, xã Đ đến hỏi mua s lô. D đồng ý bán cho Phạm Tuấn V các s lô “85, 74, 47, 51, 00”, mỗi s lô 30 điểm (01 điểm lô tính giá trị tiền bằng 22.500đ) với tổng s tiền là 3.375.000đ và bán cho Nguyễn Văn L các s lô “65, 13” mỗi s 40 điểm, với tổng s tiền là 1.800.000đ. Tuấn V đưa cho D 3.400.000đ thừa 25.000đ nhưng D chưa kịp tr lại cho Tuấn V thì bị bắt qu tang. L thanh toán đủ cho D 1.800.000đ tiền lô xong rồi L tiếp tục mua thêm của D 02 cặp lô xiên ba các s “65, 13, 05” và “27, 19, 68” mỗi cặp lô xiên giá trị bằng tiền là 50.000đ, do bị bắt qu tang nên L chưa kịp thanh toán cho D 100.000đ tiền mua 02 cặp lô xiên trên. Quá trình mua bán s lô, Tuấn V và L mỗi người lấy ra 01 m nh giấy đã ghi sẵn các con s rồi đọc các con s mình mua cho D nghe để D ghi lại các con s đó vào m nh giấy khác làm căn cứ đ i chiếu sau này để tr thưởng. Trong lúc đang bán s cho L thì D bị tổ công tác của Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt qu tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Cụ thể, thu của Nguyễn Thị D tổng s 8.350.000đ tiền VNĐ; 01 m nh giấy (gọi là phơi đề) ghi các s lô đã bán cho Tuấn V và L; 01 m nh bìa ghi các kí tự chữ và s ; 01 quyển sổ; 01 túi xách bằng v i màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2. Thu của Phạm Tuấn V 01 m nh giấy (cáp đề); thu của Nguyễn Văn L 01 m nh giấy (gọi là cáp đề) và 250.000đ tiền VNĐ để điều tra, xử lý theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc đã tiến hành tạm giữ và khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Thị D. Kết qu thu giữ được: 01 quyển sổ bên trong có 27 tờ ghi các ký tự chữ và s , 01 tờ giấy A4 ghi các ký tự chữ và s , 02 chiếc thước kẻ và 02 chiếc bút bi.

Vật chứng của vụ án gồm có: Thu của D 8.350.000đ tiền VNĐ, trong s tiền thu giữ của D ở trên thì 5.200.000đ là tiền bán s cho Tuấn V và L, 3.150.000đ là tiền của D sử dụng để tr lại tiền thừa cho khách mua s nếu có; thu của L 250.000đ là tiền L sẽ tiếp tục sử dụng để mua s lô. Ngoài ra thu của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Samsung J2 Prime, 01 túi xách bằng v i, 02 bút bi, 02 thước kẻ, 03 m nh giấy (cáp, phơi đề), 01 m nh bìa, 01 tờ giấy A4 đều có kí tự chữ và s , 02 quyển sổ ghi kết qu xổ s Miền Bắc.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như các lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra.

Tại b n Cáo trạng s : 49/CT - VKS ngày 23/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy t bị cáo Nguyễn Thị D về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại kho n 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc thực hành quyền công t , tại phiên tòa đã phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cở sở để xác định, bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ kho n 1 Điều 321; các điểm i, s kho n 1, kho n 2 điều 51; kho n 1, kho n 2 và kho n 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; kho n 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 07 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo D cho chính quyền địa phương nơi bị cáo đang cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất quan điểm về xử lý vật chứng liên quan đến vụ án và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bổ sung gì khác và cũng không có ý kiến gì tham gia tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và xin miễn phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, các quyết định t tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc và Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra và truy t ở vụ án này đã thực hiện đầy đủ đúng theo trình tự thủ tục của Bộ luật t tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia t tụng khác đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật t tụng hình sự và không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, các quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng và của người tiến hành t tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng và của người tiến hành t tụng đã thực hiện trong vụ án này đúng quy định của pháp luật nên không có kiến nghị gì.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội D b n Cáo trạng đã truy t mà không có lời tự bào chữa nào khác. Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia t tụng khác; phù hợp với các vật chứng đã thu được khi bị bắt qu tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Kho ng 17 giờ, 30 phút ngày 02/6/2021, tại nhà ở của mình ở Ph Lồ, xã N, huyện Y. Nguyễn Thị D đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi, bán s lô cho các đ i tượng Phạm Tuấn V và Nguyễn Văn L với tổng s tiền là 5.275.000đ (Năm triệu hai trăm b y mươi năm nghìn đồng) thì bị tổ công tác của Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt qu tang.

Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị D đã khai nhận. Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi, bán s lô cho các đ i tượng mua s từ kho ng tháng 4 năm 2021. Bị cáo là người trực tiếp bán s cho những người mua s và trực tiếp tr thưởng cho những người mua s trúng thưởng chứ không chuyển b ng cho ai. Hình thức ghi, bán s lô và tỷ lệ thắng thua được các đ i tượng đánh bạc thỏa thuận như sau: Người mua s sẽ đọc các s lô cần mua cho bị cáo, sau đó bị cáo ghi các con s của người mua vào 01 m nh giấy rồi tính tiền, m nh giấy đó bị cáo sẽ lưu lại để làm căn cứ đ i chiếu khi thanh toán tiền thưởng nếu có; 01 điểm lô bị cáo bán với giá 22.500đ, nếu người mua trúng s sẽ được tr thưởng 80.000đ/01điểm lô; với lô xiên ba thì nếu người trúng sẽ được tr thưởng gấp 40 lần s tiền người mua bỏ ra.

Kết qu tr thưởng s lô được lấy từ kết qu xổ s Miền Bắc mở thưởng trong ngày, cụ thể: S lô trúng thưởng sẽ là 02 s cu i của các gi i thưởng bất kì nào đó trùng với 02 s lô mà người mua s đã mua. Trường hợp s lô mà người mua s mua trùng với 02 s cu i của nhiều gi i thưởng thì s tiền mà người mua s được hưởng sẽ được nhân lên không quá 03 lần. Đ i với s lô xiên ba trúng thưởng sẽ là 03 s đã mua trùng với 02 s cu i của bất kỳ gi i thưởng nào. Sau khi thanh toán cho khách xong, bị cáo đều hủy bỏ các m nh giấy ghi lại các s lô đã bán cho khách nên không xác định được s tiền thu được khi bán lô và s tiền ph i thanh toán cho khách hay thu lợi trước ngày bị cáo bị bắt qu tang là bao nhiêu. B n thân bị cáo cũng không xác định được nhân thân, lai lịch của các đ i tượng đến mua s lô của bị cáo cũng như s tiền cụ thể các lần đã bán s trước đó.

Với hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị D đã có đủ cơ sở để khẳng định: Bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại kho n 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền… trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng …đã bị kết án về tội này…chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội; làm nh hưởng đến thuần phong mỹ tục và nếp s ng văn minh của địa phương. Vì vậy, cần thiết ph i xử lý bị cáo thật nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm, hậu qu x y ra, các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự nhưng do lười lao động lại mu n có tiền tiêu sài nên bị cáo đã có hành vi tham gia đánh bạc bằng hình thức trực tiếp ghi, bán s lô cho các đ i tượng mua s nhằm mục đích thu lời bất chính. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận và tỏ ra ăn năn h i c i về hành vi phạm tội của mình. Trước khi phạm tội là người có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s kho n 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, b mẹ chồng bị cáo là cụ Nguyễn Xuân X và cụ Trần Thị L. Cụ X là liệt sỹ ch ng Mỹ chết năm 1969 tại chiến trường Miền Nam, Việt Nam. Cụ L hiện đang ở cùng với vợ chồng bị cáo, bị cáo đang là người trực tiếp thờ cúng cụ X cho nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, là người có nhân thân t t, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, s tiền tham gia đánh bạc ít lại là người có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết bắt bị cáo ph i chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đ i với bị cáo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ giúp bị cáo c i tạo thành người công dân t t có ích cho gia đình và xã hội.

Đ i với hành vi mua s lô của Phạm Tuấn V và Nguyễn Văn L, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã Đ nhưng không xác định được ai có nhân thân, lai lịch như Tuấn V và L đã khai nhận tại Cơ quan điều tra nên tiếp tục xác minh khi nào làm rõ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo tham gia đánh bạc với mục đích được thua bằng tiền nên ngoài hình phạt chính, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đ i với bị cáo. Tuy nhiên, thời điểm xét xử sơ thẩm, tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp kéo dài, b n thân bị cáo lại là những người lớn tuổi, không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập bấp bênh, không có tài s n riêng nên cần xem xét miễn hình phạt tiền cho bị cáo là phù hợp.

Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã xác định, s tiền 8.600.000đ thu của các đ i tượng tham gia đánh bạc, trong đó thu của D 8.350.000đ thì 5.200.000đ là tiền bán s cho Tuấn V và L, 3.150.000đ là tiền của D sử dụng để tr lại tiền thừa cho khách mua s nếu có và thu của L 250.000đ là tiền L sẽ tiếp tục sử dụng để mua s lô. Xét thấy tổng s tiền thu của các đ i tượng tham gia đánh bạc ở trên là tiền mà các đ i tượng sẽ sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước.

Đ i với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Samsung J2 Prime, túi xách bằng v i thu của D, quá trình điều tra đã làm rõ, các tài s n trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của D không liên quan gì đến vụ án nên cần tr lại cho D nhưng tạm giữ để đ m b o thi hành án.

Đ i với 02 bút bi, 02 thước kẻ là vật chứng D sử dụng để ghi s lô cho các đ i tượng mua s , do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đ i với 03 m nh giấy (cáp, phơi đề), 01 m nh bìa, 01 tờ giấy A4 đều có kí tự chữ và s , 02 quyển sổ ghi kết qu xổ s Miền Bắc là tài liệu, chứng cứ được lưu trong hồ sơ vụ án để phục vụ công tác xét xử nên cần được tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Đ i với s tiền thừa 25.000đ của Tuấn V chưa kịp nhận lại của D thì bị bắt qu tang, quá trình điều tra chưa xác định được rõ nhân thân, lai lịch của Tuấn V, mặc khác s tiền không lớn nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết s : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị D ph i chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên b : Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ kho n 1 điều 321; điểm i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; kho n 1, kho n 2 và kho n 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị D 07 (B y) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo c ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo ph i chấp hành hình phạt tù của b n án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại kho n 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ kho n 1 Điều 46; kho n 1, kho n 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật t tụng hình sự. Tịch thu để sung quỹ Nhà nước s tiền 8.600.000đ (Tám triệu, sáu trăm nghìn đồng). Trong đó của bị cáo D là 8.325.000đ (Tám triệu, ba trăm hai mươi năm nghìn đồng), của L là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) và 25.000đ (Hai mươi năm nghìn đồng) tiền thừa của Tuấn V, bị cáo D chưa kịp tr lại; tr lại cho D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime, túi xách bằng v i nhưng tạm giữ để đ m b o thi hành án. Tịch thu, tiêu hủy 02 bút bi, 02 thước kẻ do không còn giá trị sử dụng.

Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án các tài liệu, chứng cứ như 03 m nh giấy (cáp, phơi đề), 01 m nh bìa, 01 tờ giấy A4 đều có kí tự chữ và s , 02 quyển sổ ghi kết qu xổ s miền Bắc.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 06/9/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ