- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 133MT/PC09; tiếp tục tạm giữ số tiền 200.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày 06-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Bà Nguyễn Thị Mai.
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Kiều H, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1989 tại H. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 3/9 Đ, phường T, quận H, thành phố H; chỗ ở: Số 71 đường 208 thôn A, xã A, huyện A thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 15/01/2021; tạm giam ngày 20/01/2021.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 15/01/2021, H đi xe ôm từ khu vực đường 353 huyện An Dương đến khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến chắn tàu Trần Nguyên Hãn, H bảo xe ôm đứng đợi rồi đi bộ vào đường tàu khoảng 100m mua của 01 nam giới không quen biết 1.200.000 đồng được 03 túi ma túy đá. Sau khi mua được ma túy H quay lại chỗ người xe ôm đang đứng đợi. H tiếp tục bảo người xe ôm đó chở đến khu vực trước cửa nhà số 407 Lán Bè, quận Lê Chân, Hải Phòng. Đến nơi H xuống xe đi bộ vào một quán nước để uống nước thì bị Tổ công tác Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 – Bộ tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp cùng Công an phường An Dương phát hiện, kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay phải của H 01 túi nilon màu trắng kích thước 4x6cm chứa tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng về trụ sở Công an phường An Dương làm việc. Tại trụ sở Công an phường, Tổ công tác tiếp tục phát hiện thu giữ trong túi áo khoác ngoài phía trước bên trái H đang mặc có 01 túi nilon màu trắng kích thước 4x6cm chứa tinh thể màu trắng, trong túi quần phụ phía trước bên phải H đang mặc 01 túi nilon màu trắng kích thước 2x2cm chứa tính thể màu trắng, đều nghi là ma túy. Ngoài ra còn thu giữ của H số tiền 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 133/KLGĐ ngày 15/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon màu trắng thu giữ của H là ma túy, có khối lượng 2,94 gam, là loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 24/3/2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Đỗ Kiều H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Kiều H từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo số tiền 200.000 đồng.
Đối với người nam giới đã bán ma túy cho H và người chở H đi mua ma túy, do H không biết tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, nội dung bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa. Thể hiện: Hồi 10 giờ 00 phút, ngày 15/01/2021, tại khu vực trước cửa nhà số 407 Lán Bè, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Đỗ Kiều H đã có hành vi cất giữ 2,94 gam Methamphetamine để sử dụng cá nhân và bị bắt quả tang nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, án phí:
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng, xét là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nH tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần án phí.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Kiều H 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15 tháng 01 năm 2021.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 133MT/PC09; tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án phần án phí. (Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng và Biên lai thu tiền số 0004741 ngày 25/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Lê Chân; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Trại tạm giam CATP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - Phòng PV06, PC10 CATP Hải Phòng; - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |