vanban.org

Bản án 47/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hờ Thị Dụ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2021/HS-ST
Ngày 29/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

__________________

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH T

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Ngô Thị T

Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị H và Ông Lê Văn T .

Thư ký phiên toà:Ông Lâu Văn C , Thư ký - Tòa án nhân dân huyện M tỉnh T .

Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn C - Kiểm sát viên.

Ngày29/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M , tỉnh T , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 17/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:51/2021/QĐXXST-HS ngày 15/12/2021 đối với bị cáo:

Hờ Thị D ;sinh năm: 1975.Quê quán:Xã L ,huyện M , tỉnh S .Nơi cư trú: Bản K , xã T , huyện M , tỉnh T .Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: Trồng trọt.Trình độ học vấn:Không biết chữ.

Con ông:Hờ A D (Đã chết) con bà:Giàng Thị M , sinh năm 1938; Chồng: Vàng A T , sinh năm: 1974; Có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2003.

Hiện tại, vợ và các con của bị cáo đang sinh sống tại: Bản K , xã T , huyện M , tỉnh T .

Tiền án; Tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 10/8/2021, chuyển tạm giam ngày 19/8/2021tại nhà tạm giữ Công an huyện M .Có mặt tại phiên tòa.

Người phiên dịch: Lâu Văn Q ; Dân tộc: Mông; Trú tại: Bản Pù Toong, xã Pú Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo:Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T . Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ, ngày 10/8/2021, bị cáo ở nhà đang chuẩn bị mang ma túy ra sử dụng thì Công an huyện M phối hợp với Công an xã T vào nhà kiểm tra, phát hiện và thu giữ bên trong một túi vải thổ cẩm bị cáo đeo trên người có chứa 02 túi nilon, 01 túi màu vàng bên trong chứa cục bột dạng nén, màu trắng; 01 túi màu xanh bên trong chứa 02 viên nén, màu hồng. Bị cáo khai đó là ma túy, gồm Heroine và Methamphetamine bị cáo mua của một người đàn ông, ở khu vực ven đường thuộc bản k , xã T , huyện M vào khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, với số tiền 100.000 đồng nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ người này, mục đíchmang về để sử dụng cho bản thân, vì bị cáo nghiện ma túy đã rất lâu năm rồi. Tổ công tác tuyên bố bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật liên quan. Tại bản kết luận giám định số: 2614/PC09, ngày 16 tháng 8 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: “Cục bột màu trắng, dạng nén của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,118g (không phẩy một một tám gam) loại Heroine; 02 (hai) viên nén màu hồng, hình trụ tròn trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu chữ “WY” của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,201g (không phẩy hai không một gam), loại : Methamphetamine Tổng số ma túy bị cáo tàng trữ là: 0,319g (Không phẩy ba mười chín gam) Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bản cáo trạng số:51/CT-VKS-ML ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,Quy định tạiđiểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tranh luậnvà luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo khẳng định không ai súi dục hay ép buộc nhận tội thay người khác; Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Về điều luật: Áp dụng:Điều 38;điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm ikhoản 1Điều 249 BLHS; Về hình phạt: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối vớibị cáo, vì bị cáo làm trồng trọt, thu nhập thấp nên không có tính khả thi.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 túi vải thổ cẩm không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tốkhông bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, bị cáo khai, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy trái phép để sử dụng là vi phạm pháp luật và bị Nhà Nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện chất ma túy,không kìm chế được bản thân nên đã cố tình phạm tội. Bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu là đúng,bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.

Ý kiến người bào chữa:Người bào chữađồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Người bào chữa cho rằng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn,nên đề nghị HĐXX xử mức án thấp nhất, tạo điều kiện để sớm được trở về với gia đình và xã hội, bản thân trở thành công dân có ích và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ý kiến bị cáo: Bị cáo nhận tội, đồng tình với lời bào chữa, không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xétmức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo tàng trữtổng khối lượng là 0,319g (Không phẩy ba mười chín gam) về sử dụng đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túycủa Nhà Nước. Hiện nay ma túy đang trở thành hiểm họa lớn cho toàn xã hội về tác hại của nó, ma tuý là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Với tính chất vụ án, hành vi vànăng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:Tàng trữ trái phép chất ma túy, [3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Với các tình tiết này HĐXX xem xét xử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. [4] Xét về hình phạt: Hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt chobị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cho thấy bị cáo làm trồng trọt thu nhập không ổn định, gia đình là hộ cân nghèo. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [5] Xét về vật chứng trong vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước Việt Nam cấm lưu hành và túi vải màu nâu đen đã qua sử dụng, bị cáo xác nhận không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy. Tang vật của vụ án hiện đang được bảo quản tại kho tang vật Chi cục THADS huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa. [6] Xét về phần án phí và quyền kháng cáo:Bị cáo được miễn án phí HSST và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. [7] Các nhận định khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai chỉ mới gặp lần đầu, không biết tên, tuổi, lúc mua bán giữa bị cáo và người đàn ông kia cũng không ai biết, không ai chứng kiến, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát không đủ căn cứ để xác minh và xử lý.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Về điều luật:

Căn cứ:Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1Điều 47 Bộ luật hình sự;

Căn cứ: Điều 135, Điều 136BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Căn cứ:Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh:

Tuyên: Hờ Thị D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xử bị cáo15 (Mười lăm) thángtù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ (10/8/2021).

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về tang vật:Tịch thu tiêu hủy:

Phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành sau giám định được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Lê Minh T , Lưu Bình N , Bùi Văn V và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đóng giáp lai. Phong bì niêm phong còn nguyên vẹn và một túi vải màu nâu đen đã qua sử dụng.

Vật chứng kể trên đang lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện M , tỉnh T , theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKS-ML, ngày 15/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Biên bản giao nhận vật chứng số:11/NK2022 ngày16/11/2021 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M , tỉnh T .

Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí HSST.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Án xử công khai; có mặt bị cáo;có mặtngười bào chữa, bị cáocó quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ