vanban.org

Bản án 47/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 08/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quý L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quý L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quý L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐỨC PHỔ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2021/HS-ST
Ngày 08-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duẩn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tiếp

Ông Nguyễn Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quá và ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên.

Vào ngày 08 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST – HS ngày 24/11/2021 đối với bị cáo:

Họ tên: Huỳnh Quý L, Tên gọi khác: Không, sinh ngày 14 tháng 06 năm 1983 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố A, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sửa chữa xe mô tô; Trình độ học vấn: 12/12. Giới tính: Nam; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, ngày 04/03/2021, bị Công an thị xã Đức Phổ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhân thân: Ngày 26/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) xử phạt 04 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", ngày 31/03/2011 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 21/7/2011, bị Công an thị xã Đức Phổ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoảng 1 Điều 104 BLHS năm 1999, ngày 10/11/2011 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày 04/02/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Quảng Ngãi thời gian 24 tháng vì nghiện ma túy, năm 2015 chấp hành xong về sinh sống tại địa phương. Ngày 18/04/2018, bị Công an huyện Đức Phổ xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác; Con ông Huỳnh Ngọc A (chết); con bà Trần Thị Đông B; vợ, con: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2021 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đức Phổ, có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Đức L – sinh năm 1974

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn T

Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Phạm Văn T – sinh năm 1988

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Bà Phạm Nữ Hà N – sinh năm 1985

Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Nhật Q – sinh năm 1986

Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Văn T – sinh năm 1987

Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 04/07/2021, lực lượng tuần tra Công an thị xã Đức Phổ phối hợp với Công an phường Nguyễn Nghiêm phát hiện Nguyễn Nhật Q, Nguyễn Văn T, Huỳnh Quý L đang ở nhà L, nghi ngờ các đối tượng đang tụ tập để sử dụng trái phép chất ma túy, nên lực lượng tuần tra tiến hành yêu cầu kiểm tra; lúc này Huỳnh Quý L bỏ chạy ra phía sau nhà, lực lượng tuần tra đã khống chế được L và phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên trái của L đang mặc trong người có nhiều tinh thể màu trắng (ma túy loại Methamphetamine), số tiền 7.900.000đồng trong túi quần sau bên phải, nên tạm giữ của L 01 quần Jean màu xanh, số tiền 7.900.000 đồng; thu giữ trong túi quần của Nguyễn Văn T 02 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga và số tiền 97.000 đồng. Công an thị xã Đức Phổ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Huỳnh Quý L và tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của L. Quá trình khám xét thu giữ 01 túi ni lông chứa tinh thể màu trắng (ma túy loại Methamphetamine), 01 bơm kim tiêm chứa dung dịch màu hồng; 01 cân tiểu ly có bám dính chất màu trắng; 19 viên nén màu trắng, 02 xe mô tô biển kiểm soát 76HK-6721, 76H1-46172, 04 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại hiệu Intel, 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu microsoft, 01 điện thoại không rõ nhãn hiệu, 04 ông bơm kim tiêm, 06 bật lửa ga, 02 dao lam, 58 túi ny lông được hàn kín 3 đầu; 01 tấm nhựa hình chữ nhật màu đen, 01 chai nhựa, trên ắp có đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống thủy tinh, 01 lỗ cắm ống nhựa; 02 ống thủy tinh, một đầu hình phiễu; 03 ống nước cất đã qua sử dụng, số tiền 190.000 đồng; mở rộng khám xét ngoài khu vực nhà của L thu giữ được 02 túi ni lông chứa ma túy dạng cục do L vứt ra khi bỏ chạy. Công an đã tiến hành niêm phong các vật chứng để tiến hành giám định và phục vụ điều tra vụ án.

Tại kết luận giám định số 628/KLGĐ-PC09 ngày 8/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong bì niêm phong mã số NS4A 183182 (thu giữ khi bắt quả tang Huỳnh Quý L) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,78 gam.

- Chất rắn dạng cục màu trắng bên trong bì niêm phong mã số NS4A 183173 (thu giữ khi mở rộng khám xét ngoài nhà Huỳnh Quý L) là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 1,45 gam.

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong bì niêm phong mã số NS4A 183186 (thu giữ khi khám xét nhà Huỳnh Quý L) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,37 gam.

- Vi vết dạng tinh thể màu trắng bám dính trên cân tiểu ly bên trong bì niêm phong mã số NS4A 183181 (thu giữ khi bắt quả tang Huỳnh Quý L) là ma túy, loại Methamphetamine, không thể cân khối lượng do lượng mẫu ít.

- 25ml dung dịch màu hồng trong bơm kim tiêm ở bì niêm phong mã số NS4A 183168 (thu giữ khi bắt quả tang Huỳnh Quý L) có thành phần chất ma túy, loại Heroin, hàm lượng Heroine là 13,9%, tính ra khối lượng Heroine có trong dung dịch màu hồng là 0,04 gam.

- 19 viên nén màu trắng bên trong bì niêm phong mã số NS4A 183189 (thu giữ khi bắt quả tang Huỳnh Quý L) có khối lượng 11,12 gam, không tìm thấy thành phần chất ma túy.

Quá trình điều tra ban đầu L không thừa nhận dung dịch ma túy Heroine là của L nhưng sau đó L thừa nhận; L là người nghiện ma túy, nên ngày 04/7/2021, L đến nhà Phạm Nữ Hà N (tại tổ dân phố B, phường N, thị xã Đ), tại nhà N còn có đối tượng Hồ Duy V. Tại đây L mua của ngân 500.000 đồng ma túy đá và 200.000 đồng ma túy loại Heroine; L pha ma túy Heroine và chích vào cơ thể 1/2 lượng dung dịch, số dung dịch còn lại trong bơm kim tiêm L bọc vào túi quần của mình và mua thêm của V 02 túi ni lông ma túy loại Heroine với giá 1.000.000 đồng, sau đó đi về nhà; một lúc sau thì bị lực lượng Công an tuần tra phát kiện lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 12/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố Huỳnh Quý L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Quý L từ 30 đến 36 tháng tù, được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 76HK-6721 đứng tên chủ sở hữu ông Nguyễn Văn T (cha của Nguyễn Văn T) và xe mô tô biển kiểm soát 76H1-46172 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Nhật Q không liên quan đến hành vi phạm tội của Huỳnh Quý L, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ trả lại cho các chủ sở hữu, nên không xem xét.

- Đối với 02 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga số tiền 97.000 đồng, 190.000đồng là của Nguyễn Văn T; T khai mang theo bật lửa, kim tiêm trong người mục đích là để sử dụng ma túy, hành vi của Nguyễn Văn T không liên quan đến hanh vi phạm tội của Huỳnh Quý L, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định tiêu hủy 02 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga, trả lại số tiền 287.000 đồng cho T, nên không xem xét.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 0,62g mẫu ma túy loại Methamphetamine, 1,29g mẫu ma túy loại Heroine, 0,21g mẫu ma túy loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly, 01 bơm kim tiêm, 10,50g Sodium bicarbonate, được niêm phong trong phong bì số 628/PC09(GDD), trên giáp lai có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký của Võ Tấn Tài, Nguyễn Văn Dũng.

+ 04 bơm kim tiêm; 01 quần Jean xanh; 02 dao lam; 58 túi ny lông được hàn kín 3 đầu; 01 tấm nhựa hình chữ nhật màu đen, 01 chai nhựa, trên ắp có đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống thủy tinh, 01 lỗ cắm ống nhựa; 02 ống thủy tinh, một đầu hình phiễu; 03 ống nước cất đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L 04 chiệc điện thoại gồm: 01 điện thoại hiệu Intel, 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu microsoft, 01 điện thoại không rõ nhã hiệu vì không liên quan đến hành vị phạm tội.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L số tiền 7.900.000 đồng, vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

* Đối với Phạm Nữ Hà N người mà L khai mua ma túy với số tiền 700.000 đồng: Quá trình điều tra chỉ có lời khai của L, N không thừa nhận lời khai của L và không có chứng cứ buộc tội khác. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không việc mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Nữ Hà N để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Đối với Hồ Duy V (còn gọi là V Tường) người mà L khai mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng: Quá trình điều tra chỉ có lời khai của L, V đã bỏ đi khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có kết quả và không có chứng cứ buộc tội khác. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không việc mua bán trái phép chất ma túy của Hồ Duy V để xử lý theo quy định của pháp luật.

* Đối với số ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,37g thu giữ tại nhà của Huỳnh Quý L. Nguồn gốc số ma túy này L không nhớ mua vào thời gian nào, mua của ai, bản thân L là người nghiện ma túy và sử dụng nhiều loại ma túy. Do đó không xác định được nguồn gốc số ma túy này ai bán cho L.

* Đối với việc Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật Q ở tại nhà L, nhưng để chơi không có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra không có hành vi tổ chức sử dụng hoặc mua bán trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ xử lý.

* Đối với hành vi của Nguyễn Văn T tàng trữ 02 bơm kim tiêm trong người, T khai mua ở tiệm thuốc tây mang về khi nào có ma túy thì sử dụng, nhưng chưa mang về thì bị phát hiện. Do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn T về hành vi tàng trữ phương tiện, dụng cụ trái phép chất ma túy. Đối với việc kiểm tra nhanh T dương tính với ma túy là do T đã sử dụng trước đó, cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là có căn cứ.

* Đối với hành vi của Huỳnh Quý L đã tàng trữ một số dụng cụ để phục vụ cho việc sử dụng ma túy như 02 bơm kim tiêm, 02 phiễu thủy tinh và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa, ống hút); ngoài ra còn thu giữ 03 bơm kim tiêm, nhưng L cho rằng 03 bơm kim tiêm này trong giỏ rác không phải của L mà do bạn của L bỏ vào. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để xử lý Huỳnh Quý L về hành vi tàng trữ phương tiện, dụng cụ trái phép chất ma túy là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Huỳnh Quý L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở để xác định bị cáo Huỳnh Quý L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo Huỳnh Quý L là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển được hành vi của mình, biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy và nhiều lần bị cơ quan chức năng xử phạt tù, xử lý hành chính về hành vi liên quan đến ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học lo làm ăn, phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện bản thân tránh xa các tệ nạn xã hội để trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội mà tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định trật tự tại địa phương, đây là tệ nạn xã hội cần phải được phòng chống và đẩy lùi. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Quý L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 26/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) xử phạt 04 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", ngày 31/03/2011 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương; ngày 21/7/2011, bị Công an thị xã Đức Phổ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoảng 1 Điều 104 BLHS năm 1999, ngày 10/11/2011, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án; ngày 04/02/2013, bị Ủy ban nhân dân huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Quảng Ngãi thời gian 24 tháng vì nghiện ma túy, năm 2015 chấp hành xong về sinh sống tại địa phương; ngày 18/04/2018, bị Công an huyện Đức Phổ (nay là thị xã Đức Phổ) xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác.

Đối với Phạm Nữ Hà N người mà L khai mua ma túy với số tiền 700.000 đồng: Quá trình điều tra chỉ có lời khai của L, N không thừa nhận lời khai của L và không có chứng cứ buộc tội khác. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không việc mua bán trái phép chất ma túy của Phạm Nữ Hà N để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Đối với Hồ Duy V (còn gọi là V Tường) người mà L khai mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng: Quá trình điều tra chỉ có lời khai của L, V đã bỏ đi khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có kết quả và không có chứng cứ buộc tội khác. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có hay không việc mua bán trái phép chất ma túy của Hồ Duy V để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

Đối với số ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,37g thu giữ tại nhà của Huỳnh Quý L. Nguồn gốc số ma túy này L không nhớ mua vào thời gian nào, mua của ai, bản thân L là người nghiện ma túy và sử dụng nhiều loại ma túy. Do đó không xác định được nguồn gốc số ma túy này ai bán cho L.

Đối với việc Nguyễn Văn T, Nguyễn Nhật Q ở tại nhà L, nhưng để chơi không có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra không có hành vi tổ chức sử dụng hoặc mua bán trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn T tàng trữ 02 bơm kim tiêm trong người, T khai mua ở tiệm thuốc tây mang về khi nào có ma túy thì sử dụng, nhưng chưa mang về thì bị phát hiện. Do đó không đủ căn cứ xử lý Nguyễn Văn T về hành vi tàng trữ phương tiện, dụng cụ trái phép chất ma túy. Đối với việc kiểm tra nhanh T dương tính với ma túy, là do T đã sử dụng trước đó, cơ quan điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T là có căn cứ.

Đối với hành vi của Huỳnh Quý L đã tàng trữ một số dụng cụ để phục vụ cho việc sử dụng ma túy như 02 bơm kim tiêm, 02 phiễu thủy tinh và một bộ dụng cụ sử dụng ma túy (chai nhựa, ống hút); ngoài ra còn thu giữ 03 bơm kim tiêm, nhưng L cho rằng 03 bơm kim tiêm này trong giỏ rác không phải của L mà do bạn của L bỏ vào. Quá trình điều tra chưa đủ căn cứ để xử lý Huỳnh Quý L về hành vi tàng trữ phương tiện, dụng cụ trái phép chất ma túy là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 76HK-6721 đứng tên chủ sở hữu ông Nguyễn Văn T (cha của Nguyễn Văn T) và xe mô tô biển kiểm soát 76H1-46172 đứng tên chủ sở hữu Nguyễn Nhật Q không liên quan đến hành vi phạm tội của Huỳnh Quý L, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ trả lại cho các chủ sở hữu, nên không xem xét.

- Đối với 02 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga số tiền 97.000 đồng, 190.000 đồng là của Nguyễn Văn T; T khai mang theo bật lửa, kim tiêm trong người mục đích là để sử dụng ma túy, hành vi của Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội của Huỳnh Quý L, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ đã ra quyết định tiêu hủy 02 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga, trả lại số tiền 287.000 đồng cho T, nên không xem xét.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 0,62g mẫu ma túy loại Methamphetamine, 1,29g mẫu ma túy loại Heroine, 0,21g mẫu ma túy loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly, 01 bơm kim tiêm, 10,50g Sodium bicarbonate, được niêm phong trong phong bì số 628/PC09 (GDD), trên giáp lai có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký của Võ Tấn Tài, Nguyễn Văn Dũng.

+ 04 bơm kim tiêm; 01 quần Jean xanh; 02 dao lam; 58 túi ny lông được hàn kín 3 đầu; 01 tấm nhựa hình chữ nhật màu đen, 01 chi nhựa, trên ắp có đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống thủy tinh, 01 lỗ cắm ống nhựa; 02 ống thủy tinh, một đầu hình phiễu; 03 ống nước cất đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L 04 chiệc điện thoại gồm: 01 điện thoại hiệu Intel, 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu microsoft, 01 điện thoại không rõ nhã hiệu vì không liên quan đến hành vị phạm tội.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L số tiền 7.900.000 đồng, vì không liên quan đến hành vị phạm tội.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Quý L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Quý L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quý L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/7/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm:

+ 0,62g mẫu ma túy loại Methamphetamine, 1,29g mẫu ma túy, loại Heroine, 0,21g mẫu ma túy, loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly, 01 bơm kim tiêm; 10,50g Sodium bicarbonate, được niêm phong trong phong bì số 628/PC09 (GĐ-2021), trên giáp lai có hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và các chữ ký của Võ Tấn Tài, Nguyễn Văn Dũng.

+ 04 bơm kim tiêm; 06 bật lửa ga; 01 quần Jean xanh; 02 dao lam; 58 túi ny lông được hàn kín 3 đầu; 01 tấm nhựa hình chữ nhật màu đen, 01 chai nhựa, trên ắp có đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống thủy tinh, 01 lỗ cắm ống nhựa; 02 ống thủy tinh, một đầu hình phiễu; 03 ống nước cất đã qua sử dụng.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L 04 chiệc điện thoại gồm: 01 điện thoại hiệu Intel màu đỏ, 01 điện thoại hiệu Iphone màu trắng – vàng đồng, 01 điện thoại hiệu microsoft màu cam, 01 điện thoại di động màu trắng không rõ nhãn hiệu vì không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Trả lại cho Huỳnh Quý L số tiền 7.900.000 đồng, vì không liên quan đến hành vi phạm tội. Số tiền này hiện đang tạm giữ trong tài khoản số 39490104376300000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại kho bạc Nhà nước thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Tài sản tuyên tịch thu tiêu hủy và hoàn trả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đức Phổ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Huỳnh Quý L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Quý Lộc được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ