- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày 23-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường.
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Vũ Đình Mạnh và ông Nguyễn Đức Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa:
Bà Dương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Bùi Quang T, sinh năm 1984 tại Phường V, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu 6, phường V, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Mạnh T1 và bà Hồ Thị T2.
Tiền án: 02 tiền án
- Bản án số 138/2017/HSST ngày 09/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; chấp hành xong án phạt tù ngày 25/7/2018;
- Bản án số 18/2019/HSST ngày 12/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; chấp hành xong án phạt tù ngày 09/11/2020;
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 568/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương; chấp hành xong quyết định ngày 28/02/2011;
Quyết định áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 3527/QĐ-UBND ngày 29/12/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương. Ngày 31/12/2013 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương tiếp tục ra quyết định số 2356/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; chấp hành xong quyết định ngày 24/12/2015;
Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn số 111/QĐ-UBND ngày 05/12/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương; chấp hành xong quyết định ngày 05/3/2019;
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27B/QĐ-XPVPHC ngày 08/02/2019 của Công an huyện Bình Giang về hành vi mua số lô; chấp hành xong quyết định ngày 12/3/2019;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30/4/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Khu 3, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Phạm Văn D, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Khu 3, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Quang T là người nghiện ma túy, có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Khoảng 11 giờ ngày 29/4/2021, T điều khiển xe mô tô BKS 29S8-2740 (mượn của anh Phạm Duy Th, sinh năm 1979, ở Khu 1, phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương) đi từ thành phố Hải Dương đến thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến thị trấn Kẻ Sặt, T gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông xưng tên gọi là T3 (T không quen biết, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, địa chỉ), T3 đồng ý. T3 bảo T chở đến đầu ngõ Trung Hòa, thị trấn Kẻ Sặt thì T3 đi bộ vào trong ngõ, còn T đứng đợi. Khi T3 đi ra mang theo 01 gói ma túy bán cho T với giá 300.000 đồng. Đến 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi T chở T3 đi đến trước cửa số nhà 84 Phạm Ngũ Lão, Khu 3, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang thì bị lực lượng Công an huyện Bình Giang dừng xe kiểm tra, T3 xuống xe bỏ chạy. Quá trình kiểm tra thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 01 gói bọc giấy tráng kim loại màu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, T khai là ma túy loại Heroine, mua để sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 236/KLGĐ-PC09 ngày 30/4/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Bùi Quang T, gửi đến giám định có khối lượng 0,075gam là ma túy, loại Heroine. Không hoàn lại mẫu vật sau giám định. Heroine STT 09, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 03/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang đã truy tố bị cáo Bùi Quang T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 13 đến 16 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép ma túy như nêu trên, mục đích sử dụng. Bị cáo nhất trí với nội dung Kết luận giám định, nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản được cơ quan Công an lập khi thu giữ ma túy của bị cáo T, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Bùi Quang T có 2 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Hồi 12 giờ 15 phút ngày 29/4/2021, tại đường Phạm Ngũ Lão, Khu 3, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, T có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,075 gam ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng.
Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo đã vi phạm luật phòng chống ma túy, gây nguy hiểm cho xã hội, là một nguyên nhân gây nên nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện nên có lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo có nhân xấu, hai lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; một lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn và một lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua số lô.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì vì đã có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Hoàn cảnh kinh tế bị cáo khó khăn, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng: Vật chứng là ma túy thu của T đã sử dụng hết vào việc giám định, nên không phải xem xét.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 29S8-2740 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Duy Thông, khi cho T mượn xe anh Thông không biết T sử dụng để đi mua ma túy, ngày 19/7/2021 Cơ quan điều tra đã trả anh Thông là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giam (30/4/2021).
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - VKSND huyện Bình Giang - Cơ quan CSĐT CA huyện Bình Giang; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu HSVA; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Cường |