- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phương Văn Đông - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn Đ phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản";
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày: 7-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tôn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Hoàng Văn Thọ;
2. Ông: Trương Đức Thành;
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hạ Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thanh Tình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 18/8/2021 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
* Đối với bị cáo: Phương Văn Đ, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1997 tại: Bảo Lâm, Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Nà Làng, xã Mông Ân, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Phương Văn L, sinh năm 1968; con bà: Ma Thị H, sinh năm 1971; bị cáo có 03(Ba) chị em, bị cáo là thứ ba trong gia đình; tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 29/7/2021 bị Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt).
* Các bị hại:
1. Ma Thị H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng.(Có mặt).
2. Phương Văn L; sinh năm 1968; nơi cư trú: Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng.(Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Dương Văn L, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Nà Sài Nà Piậy, Thái Học, Bảo Lâm, Cao Bằng.(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15/7/2021, Phương Văn Đ trú tại Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng hỏi mẹ là bà Ma Thị H mượn xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 11L1-082.04 để đi chợ thị trấn Pác Miầu, Bảo Lâm chơi thì được bà H đồng ý. Khi xuống dưới nhà thì Đông gặp bố là Phương Văn L, Đ hỏi xin ông L tiền để mua xăng thì ông L nói xe mới đổ xăng và không cho Đ tiền. Sau đó, Đông điều khiển xe máy đi đến quán bi-a Hoàn Hảo ở Chợ Nông Sản thuộc khu 3, thị trấn Pác Miầu chơi. Tại đây Đ gặp Tr (không rõ họ, năm sinh), nhà ở Xã Quảng Lâm, Bảo Lâm và rủ Tr đi đến xã Thái Học, Bảo Lâm chơi thì Tr đồng ý. Đ điều khiển xe máy chở Tr đi đến xóm Nà Sài Nà Piậy, Thái Học thì dừng ở một quán tạp hóa để uống nước. Sau khi ngồi uống nước khoảng 01 tiếng đồng hồ, Đ và Tr không có tiền để trả, lúc này Đ nhìn thấy bên cạnh quán tạp hóa có cửa hiệu cầm đồ Dương L của ông Dương Văn L, trú tại Nà Sài Nà Piậy, Thái Học, Bảo Lâm, do không có tiền trả tiền nước và tiêu sài cá nhân nên Đ nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe máy của gia đình để lấy tiền tiêu sài. Đ đi vào cửa hiệu cầm đồ, lúc này Tr cũng đi theo Đ. Đ gặp L và nói muốn cầm cố chiếc xe máy của gia đình với giá 5.000.000 đồng, L không đồng ý và nói chỉ nhận cầm cố chiếc xe máy với giá 4.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày thì Đông đồng ý. Sau đó, L làm hợp đồng cầm cố rồi đưa cho Đ số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền Đ để xe máy và giấy tờ xe lại rồi đi ra ngoài, Tr cũng đi theo Đ. Sau đó, Tr gọi điện thoại cho một người em của Tr (Đ không quen biết) đi xe máy đến đón rồi cả ba cùng đi đến thị trấn Pác Miầu. Khi đi đến Thị trấn thì Tr và em của Tr đi về nhà, còn Đ tiếp tục ở lại thị trấn chơi. Số tiền cầm cố xe máy có được Đ tiêu sài cá nhân và nhờ những người nghiện Đ không quen biết đi mua Heroine về để sử dụng.
Sau khi Đ mượn xe đi chơi nhưng không thấy về, đến ngày 18/7/2021 Ma Thị H đi tìm và gặp Đ ở Thị trấn Pác Miầu nhưng Đ bỏ chạy sau đó bà H làm đơn trình báo đến Công an huyện Bảo Lâm. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phương Văn Đ. Tại cơ quan điều tra, Đ thừa nhận hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy và tự nguyện nộp lại số tiền chưa tiêu hết là 1.310.000 đồng. Qua xác minh, Dương Văn L đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm để phục vụ điều tra.
Tại kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng kết luận: 01 xe máy HONDA WAVE RSX màu sơn đỏ-đen, biền kiểm soát 11L1-082.04, số khung: 3824GY041767, số máy: JA38E0132057, đã qua sử dụng có giá: 4.500.000 đồng.
Trong quá trình điều tra Phương Văn Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của Dương Văn L và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
* Người bị hại bà Ma Thị H và ông Phương Văn L trình bày: chúng tôi là bố mẹ của bị cáo Đ, quá trình điều tra chúng tôi đã khai báo đầy đủ với cơ quan điều tra, tại phiên toà hôm nay chúng tôi không thay đổi lời khai. Đối với chiếc xe máy hiện nay đang tạm giữ chúng tôi yêu cầu được nhận lại để làm phương tiện đi lại của gia đình, và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra chúng tôi không có yêu cầu gì thêm.
* Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phương Văn Đ về tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
- Điều luật áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng Điểm a, khoản 1, Điều 175; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Phương Văn Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với 08 (Tám) tháng tù tại Bản án số: 38/2021/HS-ST, ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
- Về xử lý vật chứng: Xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 15/7/2021, Phương Văn Đ mượn xe máy HONDA WAVE RSX màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 11L1-082.04 của mẹ là Ma Thị H để đi chơi, sau đó do không có tiền tiêu sài nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy và đã cầm cố xe máy tại hiệu cầm đồ của Dương Văn L ở Nà Sài Nà Piậy, Thái Học, Bảo Lâm được số tiền 4.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Tại kết luận định giá tài sản, giá trị của xe máy tại thời điểm bị chiếm đoạt là 4.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với tang vật vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người bị hại, ảnh hưởng xấu đến tự trị an ở địa phương, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án và pháp luật nghiêm cấm. Hành vi trên đã cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phương Văn Đ từ nhỏ được bố mẹ nuôi dưỡng, cho ăn học, tuy nhiên khi học đến lớp 10 thì Đông bỏ học và ở nhà. Sau khi bỏ học, bị cáo thường xuyên tụ tập với các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn, bản thân bị cáo cũng sử dụng ma túy từ năm 2019. Bị cáo là nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định. Ngày 29/7/2021 bị cáo Đông bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời nhằm tuyên truyền giáo dục cho mọi công dân.
- Tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo (điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự). Người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt (khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự)
- Tình tiết tăng nặng: Không có.
Trong vụ án này:
Đối với Dương Văn L là người nhận cầm cố xe máy cho Phương Văn Đ. Khi nhận cầm cố tài sản thì L không biết nguồn gốc tài sản và phương thức chiếm đoạt tài sản của bị can, do đó xác định không có dấu hiệu đồng phạm hay phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với đối tượng tên Tr ở xã Quảng Lâm, Bảo Lâm là người đi cùng Đ cầm cố xe máy, trước khi cầm cố Đ không được bàn bạc gì với Trường, sau khi cầm cố xe Trường cũng không được lợi ích gì, Đ cũng không nhớ thông tin và đặc điểm cụ thể của Tr. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng nào có đặc điểm như Đ đã khai nên không có đủ căn cứ để làm rõ đối tượng trên.
Đối với đối tượng bán heroine cho Đ và đối tượng mua Heroine giúp Đ, do Đ không trực tiếp đi mua mà nhờ người nghiện khác không quen biết đi mua giúp, Đ không biết thông tin, đặc điểm của những người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh, truy tìm xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà:
Người bị hại bà Ma Thị H và ông Phương Văn L không yêu cầu bị cáo Phương Văn Đ phải bồi thường về những tài sản đã bị chiếm đoạt. Xét thấy yêu cầu của người bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên được chấp nhận, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn L đề nghị được nhận lại số tiền 1.310.000 đồng (Một triệu ba trăm mười nghìn đồng) đã tạm giữ của bị cáo Đ và yêu cầu bị cáo Đ bồi thường thêm số tiền 2.690.000đ (Hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng chẵn) là số tiền mà Lđã bỏ ra để nhận cầm cố xe máy với . Xét thấy yêu cầu của ông L là chính đáng và có căn cứ nên được chấp nhận.
[5. Hướng xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 11L1-082.04, số khung: 3824GY041767, số máy: JA38E0132057, đã qua sử dụng và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số : 0050668; Tên chủ xe đăng ký Phương Văn L, sinh năm 1969, trú tại Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng. Biển số xe đăng ký: 11L1-082.04. Xác định là vật chứng của vụ án, do bị cáo Phương Văn Đ dùng thủ đoạn gian dối mang đi cầm cố. Nên cần thiết trả lại xe máy và giấy tờ xe cho bị các bị hại bà Ma Thị H và ông Phương Văn L là có căn cứ.
- 01 (Một) phong bì thư được niêm phong, mặt trước ghi "Tiền vật chứng vụ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra vào ngày 15/7/2021 tại Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng", mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Bảo Lâm, Cao Bằng. Số tiền 1.310.000 đồng (Một triệu ba trăm mười nghìn đồng). Xác định đây là số tiền nằm trong tổng số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) mà Phương Văn Đông cầm cố xe máy với Dương Văn Len mà có được, hoàn trả lại cho anh Len là có căn cứ.
- 01 (Một) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) ví giả da màu nâu là của bị cáo Phương Văn Đ mua về để sử dụng, tại phiên toà bị cáo không yêu cầu lấy lại, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Phương Văn Đông phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định, để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phương Văn Đ phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản";
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 175; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Văn Đ 10 (Mười) tháng tù.
Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 38/2021/HS-ST, ngày 29/7/2021 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 18/7/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Phương Văn Đ phải bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Dương Văn Lsố tiền 2.690.000 đồng (Bằng chữ: Hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng chẵn).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu của người được thi hành án nếu bị cáo chưa bồi thường khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu tiền lãi của số tiền chưa bồi thường theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm bồi thường.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. .
- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Văn L số tiền 1.310.000 đồng (Một triệu ba trăm mười nghìn đồng).
- Trả lại cho các bị hại Ma Thị H và Phương Văn L: 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát 11L1-082.04, số khung: 3824GY041767, số máy: JA38E0132057, đã qua sử dụng; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 0050668; Tên chủ xe đăng ký Phương Văn Lợi, sinh năm 1969, trú tại Nà Làng, Mông Ân, Bảo Lâm, Cao Bằng. Biển số xe đăng ký: 11L1-082.04.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng; 01 (Một) ví giả da màu nâu.
(Xác nhận tình trạng vật chứng hiện đã được giao, nhận bảo quản tại kho vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm tỉnh Cao Bằng số 49 ngày 18/8/2021).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phương Văn Đ phải chịu 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Tổng số tiền án phí bị cáo Phương Văn Đ phải chịu là 500.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm nghìn đồng) để nộp vào Ngân sách Nhà Nước.
Căn cứ vào Điều 26 Luật thi hành án dân sự "Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - VKSND huyện, tỉnh; - Bị cáo (Đông); - Bị hại; - Người CQL&NVLQ; - Công an huyện Bảo Lâm; - Chi cục THADS huyện Bảo Lâm; - UBND xã Mông Ân, Bảo Lâm; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nông Văn Tôn |