- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thanh T "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" Lê Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Nguyễn Thị Thanh T. Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn đối với anh Lê Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HNGĐ-ST Ngày: 29-9-2021 V/v: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂNDÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vương Văn Mum;
2. Ông Ngô Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Liêm là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 745/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2021 và Thông báo về việc dời phiên tòa số 31/TB-TA, ngày 09 tháng 7 năm 2021; Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 50/TB-TA, ngày 21 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố H, phường A, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố L, phường T, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T, trình bày:
Chị và anh H qua một thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường AH vào năm 2008. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anh Lê Văn H, cùng nhau sinh sống tại nhà chị ở khu phố H, phường A, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh đến năm 2013, thì anh Lê Văn H bỏ đi về nhà cha mẹ ruột anh H sinh sống tại khu phố L, phường T, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2014, anh Lê Văn H bỏ địa phương đi đâu tôi không biết. Nguyên nhân anh Lê Văn H bỏ đi là do anh H có tình cảm với người khác. Từ đó, chị và anh H sống ly thân cho đến nay và không có liên lạc gì với anh H. Nay chị nhận thấy đời sống hôn nhân với anh H không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.
Thời gian chung sống vợ chồng, chị và anh H có 01 con chung tên Lê Thanh T1 sinh ngày 24-3-2013. Hiện nay cháu T1 chị đang nuôi dưỡng. Khi Tòa án cho chị và anh H ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thanh T1. Chị không yêu cầu cấp phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng.
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; Riêng bị đơn anh Lê Văn H chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, vắng mặt không tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án không lý do, làm cho việc giải quyết vụ án kéo dài thời gian.
2. Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các Điều 56, 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Lê Văn H. Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Lê Văn H.
Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Thanh T1, sinh ngày 24-3-2013. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có tranh chấp, nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Lê Văn H. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị Nguyễn Thị Thanh T vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Lê Văn H vắng mặt tại phiên tòa Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân:
Chị T và anh H qua một thời gian tìm hiểu thì tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A vào năm 2008. Trong thời gian chung sống vợ chồng chị T và anh Lê Văn H, cùng nhau sinh sống tại nhà chị ở khu phố H, phường A, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh đến năm 2013, thì anh Lê Văn H bỏ đi về nhà cha mẹ ruột anh H sinh sống tại khu phố L, phường T, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2014, anh Lê Văn H bỏ địa phương đi. Nguyên nhân anh Lê Văn H bỏ đi là do anh H có tình cảm với người khác. Nay chị T nhận thấy đời sống hôn nhân với anh H không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn H.
Anh Lê Văn H không tham gia tố tụng, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn hôn nhân gia đình giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, anh H không thể hiện sự thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T đối với anh Lê Văn H là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 24-3-2013. Hiện nay cháu T1, chị T đang nuôi dưỡng. Cháu Trà có nguyện vọng được sống với chị T. Do đó, để tạo điều kiện cho sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của cháu T1, cần giao cháu Lê Thanh T1 cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với các Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Thanh T xác định chị và anh H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Lê Văn H trong quá trình giải quyết vụ án, không tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị T. Do đó, Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Nguyễn Thị Thanh T. Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn đối với anh Lê Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Thanh T1 sinh ngày 24-3-2013 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm, nhưng khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị T đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014990 ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho chị T và anh H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND TX. Trảng Bàng; - Chi cục THADS TX. Trảng Bàng; - TAND tỉnh Tây Ninh; - UBND phường A; - Lưu VT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Nguyễn Tấn Đạt |