- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản (bà M - bà T)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự: Chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/8/2021 của Viê ̣n trưở ng Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đông Hưng, tinh Thả
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 294 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/DS-PT Ngày 27-12-2021 V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán:
Ông Lưu Toàn Nghiã
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình: Bà Nhâm Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 27 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2021/TLPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2021 về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 91/2021/QĐ-PT ngày 09/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2021/QĐ-PT ngày 20/12/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1962.
Đều trú tại: thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972; Trú tại: thôn Đ2, xã Đ3, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1993; Trú tại: thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
4. Người được triệu tập: Ông Nhâm Đông D, sinh năm 1959; Trú tại: thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
5. Người kháng cáo: Bà Trần Thị T - Bị đơn.
6. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
(Bà Trần Thị T, ông Nhâm Đông D có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị M khở i kiê ̣n yêu cầu chia di sản thừ a kế của bố me ̣ đẻ là cụ Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác là Nguyễn Văn T3), sinh năm 1928, chết năm 2003 và cụ Lê Thị C, sinh năm 1931, chết năm 2004. Khi chết hai cụ không để lại di chúc.
Cụ M1 và cụ C có 03 người con chung gồm: ông Nguyễn Ngọc B (tên gọi khác là Nguyễn Văn T4), bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị N.
Ông Nguyễn Ngọc B sinh năm 1960, chết năm 2015; có vợ là bà Trần Thị T. Ông B bà T có 01 con chung là anh Nguyễn Ngọc T2.
* Tài sản cụ M1, cụ C để lại bao gồm:
- Diện tích 194m2 đất ở tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 05, bản đồ 299 (nay là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 08 theo đo đạc năm 2007) tại thôn T1, xã Đ, Đ1, tỉnh Thái Bình.
- Diện tích 1.072m2 đất nông nghiệp, gồ m:
+ 47m2 đã được quy đổi thành 141m2 đất ao ta ̣i thử a đất ao số 81 tờ bản đồ số 8 đo đạc năm 2007 (sử du ̣ng chung cùng hộ ông Nguyễn Văn T5 và hộ ông Nguyễn Tiến T6), vợ chồng ông B, bà T đã đôn lấp 89,3m2 và khi đo đa ̣c năm 2007 đa nhâ ̣̃
p vào thử a đất ở , phần diện tích đất ao còn lại là 51,7m2 giữ nguyên hiê ̣n tra ̣ng là mă ̣t nướ c. Toàn bộ diện tích đất ao đã đôn lấp và đất ao còn lại do bà Trần Thị T đang quản lý, sử dụng.
+ 1.025m2 đất nông nghiệp ngoài đồng (gồm 157m2 ở xứ đồng L và 868m2 ở xứ đồng L1), hiện nay bà Trần Thị T đang quản lý, sử dụng.
Năm 1992 bà M lấy chồng tại xã Đ3 nhưng sau đó vợ chồng bà ly hôn nên năm 1995 bà về ở cùng với bố mẹ đẻ là cụ M1, cụ C và chuyển khẩu về xã Đ sinh sống từ đó đến nay. Sau khi cụ M1, cụ C chết, năm 2011 bà có xây dựng 01 căn nhà cấp 4 diện tích 68m2 và công trinh phu ̣̀
, sân giếng, bể nướ c, tường bao trên diện tích đất ở 194m2, toàn bộ công sức, chi phí xây dựng là do bà tự bỏ ra. Đối với diện tích đất ở còn lại của cụ M1, cụ C, tuy vợ chồng ông B, bà T đã chuyển ra khu chuyển đổi ở cánh đồng L sinh sống từ năm 1998 nhưng bà T vẫn trồng chuối trên đó. Năm 2011 bà có làm đơn xin chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất, vi ̀ do hiểu biết pháp luâ ̣t ha ̣n chế, bà nghĩ chi con trai mở
́ i có quyền về đất thừ a kế nên bà có đề nghi ̣ ông B cho được hưở ng mô ̣t phần đất ở trong diện tích đất ở 194m2, tuy nhiên bà xác đi ̣nh chưa bao giờ bố mẹ bà tuyên bố cho ông B diê ̣n tich́ đất ở nào. Vì vậy bà xác định diện tích 194m2 là di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại.
Ngoài ra cụ M1 cụ C không để la ̣i tài sản gi khà
́c.
Trên diê ̣n tich di sá
̉n của cụ M1 cụ C, bà T có trồng mô ̣t số khóm chuối. Bà thừa nhận bà T có công sức quản lý, trông coi đối với diện tích đất là di sản của bố mẹ bà.
Bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừ a kế của bố me ̣ bà là cu ̣ M1, cu ̣ C đối vớ i diê ̣n tich 194m2 đất ở và 1.025m2 đất nông nghiệp ở́ ngoài đồng (đất trồng lúa). Còn diện tích 141m2 đất ao bà không yêu cầu Tòa án chia thừa kế.
* Bị đơn - bà Trần Thị T trình bày:
Về họ tên, năm sinh, năm mất của cụ M1, cu ̣ C, về hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ, bà đồng ý với lời trình bày của Nguyên đơn. Chồng bà là ông Nguyễn Ngọc B (tên gọi khác là Nguyễn Văn T4) đã chết năm 2015, bà và ông B có 01 con chung là anh Nguyễn Ngọc T2.
Cụ M1, cụ C có 194m2 đất ở nhưng khoảng năm 1986 - 1987 thì các cụ đã cho vợ chồng bà 94m2 đất ở, đã làm thủ tục tại UBND xã Đ, có tờ khai nộp thuế đất ngày 20/3/1993 mang tên ông Nguyễn Văn T4 (T3) nên phần diện tích đất ở của cụ M1, cụ C còn lại là 100m2.
Năm 1995 bà M ly hôn chồng nên có về ở cùng bố mẹ chồng bà, đến năm 2011, sau khi bố me ̣ chồng bà đã chết, bà M đã làm đơn xin chuyển nhượng 68m2 đất ở và đã được chồng bà ông B và bà N đã ký nên bà M đã được hưởng thừa kế của bố mẹ chồng bà rồi, bà M đã làm nhà cấp 4 trên diện tích đất ở 68m2 và quản lý, sử dụng từ đó đến nay. Phần diện tích đất ở còn lại hiện bà là người quản lý từ khi cụ M1, cụ C chết đến nay.
Cụ M1, cụ C không có tài sản gì trên đất.
Đối với phần diện tích đất nông nghiệp cụ M1, cụ C được giao bà thống nhất như bà M trình bày.
Tháng 01/2020, bà chuyển nhượng cho ông Nhâm Đông D phần diện tích đất ruộng khoảng 500m2 tại xứ đồng L, thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình với giá 180 triệu đồng/500m2, hai bên không làm thủ tu ̣c chuyển nhượng tại UBND xã Đ theo quy đi ̣nh. Bà xác định phần diện tích đất nông nghiệp bà đã chuyển nhượng cho ông D là phần đất nông nghiệp của hộ gia đình bà, không liên quan đến diện tích đất nông nghiệp của cụ M1, cụ C.
Bà T nhất tri kết quả thẩm đi ̣nh ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân
́ huyện Đông Hưng, xác đi ̣nh tổng diện tích đất của cụ M1, cụ C ta ̣i thử a đất số 90, tờ bản đồ số 08 là 283,3m2 (trong đó có 194m2 đất ở và 89,3m2 đất trồng cây lâu năm).
* Quan điểm của bà T đối với yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thị M:
Bà T khẳng đi ̣nh cu ̣ M1, cụ C chi cỏ ̀n la ̣i di sản là 100m2 đất ở , nên nhất trí chia thừ a kế của cu ̣ M1 cu ̣ C đối vớ i 100m2 đất ở . Phần 94m2 đất ở thuô ̣c quyền sử du ̣ng của bà vì cụ M1, cụ C đã cho vợ chồng bà. Trên diện tích đất ở và phần diện tích đất ao đã đôn lấp bà có trồng chuối, nếu Tòa án chia diện tích đất ở, bà yêu cầu tính công sức quản lý, giữ gìn đất ở và thanh toán tiền các khóm chuối bà đã trồng.
Đối với 157m2 đất nông nghiệp ở xứ đồng L, bà T đồng ý chia thừ a kế nhưng yêu cầu phải tính công sức quản lý, tôn tạo đất cho bà từ năm 1998 đến nay.
Đối với 868m2 đất nông nghiệp ở xứ đồng L1, bà T yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật (trường hợp bà M, bà N có nhu cầu sử dụng bà đồng ý chia cho bà M, bà N sử dụng và thanh toán tiền cho bà).
Đối với 141m2 đất ao (gồm 89,3m2 do vợ chồng bà đã đôn lấp và 51,7m2 đất ao còn lại) bà không yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừ a kế, không yêu cầu giải quyết công sức đôn lấp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị N nhất tri vớ ́ i trình bày và yêu cầu khở i kiê ̣n chia thừ a kế của bà M. Bà nhườ ng toàn bô ̣ phần di sản được hưở ng cho bà M và không yêu cầu bà M thanh toán giá tri ̣ di sản.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Ngọc T2 nhất trí với lời trình bày và quan điểm của bà T.
* Ông Nhâm Đông D xác nhận có nhận chuyển nhượng 500m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng L của bà Trần Thị T như bà T đã trình bày.
* Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác định tổng diện tích đất của cụ M1, cụ C ta ̣i thử a đất số 90, tờ bản đồ số 08 là 283,3m2 (trong đó có 194m2 đất ở và 89,3m2 đất trồng cây lâu năm), giá trị đất ở là 400.000 đồng/m2, đất nông nghiệp là 45.000 đồng/m2. Trên thửa đất số 90 có 43 khóm chuối trị giá 31.000 đồng/khóm.
Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 06/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình: đã áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 156, Điều 165, Điều 271, Điều 273 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166, Điều 609, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 617, Điều 618, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị M đối với diện tích đất ở 194m2 tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 05/DC bản đồ 299/TTg và 1.025m2 đất nông nghiệp của cụ Nguyễn Ngọc M1 (tức cụ Nguyễn Văn T3) và cụ Lê Thị C ở thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
2. Xử:
2.1. Giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền quản lý sử dụng 194m2 là di sản của cụ Nguyễn Ngọc M1 (tức T3) và cụ Lê Thị C tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 05/DC bản đồ 299/TTg (Theo đo đạc năm 2007 tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 08) ở thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình được xác định:
- Ranh giới phía Đông lấy bức tường bao cũ do bà Nguyễn Thị T xây dựng làm chuẩn được xác định từ điểm 1 đến điểm 2, điểm 3 và 4 có chiều dài 12,16m giáp phần đất ngõ đi của thôn T1.
- Ranh giới phía Bắc được xác định từ điểm 1 đến điểm 11, 10 và điểm 9 có chiều dài 16,02m giáp đất hộ gia đình ông Nguyễn Tiến T6.
- Ranh giới phía Tây được xác định từ điểm 9 đến điểm 12 dài 7.76m giáp phần đất ao đã đôn lấp.
- Ranh giới phía Nam được xác định từ điểm 12 đến điểm 5, 4 dài 20,12m giáp phần đất hộ gia đình ông Bùi Văn T7.
(Có bản vẽ, đo đạc, sơ đồ, vị trí tọa độ các điểm kèm theo bản án).
* Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản thừa kế cho bà Trần Thị T, anh Nguyễn Ngọc T2: 25.866.000 đồng (Trong đó: Phần của bà Trần Thị T là 12.933.000 đồng; Phần của anh Nguyễn Ngọc T2 là 12.933.000 đồng).
* Phần giá trị tài sản bà Nguyễn Thị M được hưởng và phần của bà Nguyễn Thị N nhường cho bà M được hưởng, tổng là 51.732.000 đồng.
2.2. Buộc bà Nguyễn Thị M phải thanh toán công sức quản lý, tôn tạo tài sản đối với phần diện tích 126m2 từ năm 2004 đến nay mà bà Trần Thị T trồng chuối là: 20.000.000 đồng.
2.3. Chấp nhận việc bà Nguyễn Thị M, bà Trần Thị T và bà Nguyễn Thị N và các hộ gia đình sử dụng chung là ông Nguyễn Tiến T6 và hộ ông Nguyễn Văn T5 đều đề nghị giữ nguyên hiện trạng đối với diện tích 141m2 đất ao (trong đó 89,3m2 ông B, bà T đã đôn lấp vào diện tích đất ao và hiện phần đất ao còn lại là 51,7m2) và không yêu cầu giải quyết.
Chấp nhận việc bà Trần Thị T không đề nghị giải quyết công sức đôn lấp đối với diện tích 89,3m2 đất ao.
2.4. Đối với diện tích 1.025m2 đất nông nghiệp (trong đó có diện tích 157m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng L và diện tích 868m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng L1).
- Giao cho bà Trần Thị T tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp là di sản của cụ M1, cụ C (157m2 x 45.000 đồng) trị giá 7.065.000 đồng tại thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình được chia làm 3 phần, mỗi phần là 2.355.000 đồng. Phần của bà T và anh T2 được hưởng là 2.355.000 (trong đó phần của bà T là 1.177.500 đồng, phần anh T2 là 1.177.500 đồng).
Buộc bà Trần Thị T có trách nhiệm thanh toán giá trị di sản cho bà Nguyễn Thị M là 2.355.000 đồng; Thanh toán giá trị di sản cho bà Nguyễn Thị N là 2.355.000 đồng và thanh toán giá trị di sản cho anh Nguyễn Ngọc T2 là 1.177.500 đồng.
- Giao cho bà Nguyễn Thị M quản lý, sử dụng diện tích 868m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng L1 tại thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình là di sản của cụ M1, cụ C (868m2x45.000 đồng) trị giá 41.175.000 đồng được chia làm 3 phần mỗi phần được hưởng 13.725.000 đồng.
Buộc bà Nguyễn Thị M phải thanh toán giá trị di sản cho bà Trần Thị T, anh Nguyễn Ngọc T2 là 13.725.000 đồng (trong đó phần của bà T là 6.862.500 đồng, phần của anh T2 là 6.862.500 đồng); Thanh toán giá trị di sản cho bà Nguyễn Thị N là 13.725.000 đồng.
* Phần giá trị tài sản bà Nguyễn Thị M được hưởng và phần của bà Nguyễn Thị N nhường cho bà M hưởng, tổng là 32.160.000 đồng.
2.5 Tổng giá trị tài sản mà các hàng thừa kế được hưởng, cụ thể:
- Bà Nguyễn Thị M được hưởng giá trị tài sản là: 83.892.000 đồng.
- Bà Trần Thị T được hưởng giá trị tài sản là 42.306.000 đồng.
- Anh Nguyễn Ngọc T2 được hưởng giá trị tài sản là 20.973.000 đồng.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Bà Nguyễn Thị M phải chịu 4.194.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Bà Trần Thị T phải chịu 2.115.300 đồng đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Anh Nguyễn Ngọc T2 phải chịu 1.048.650 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phi tố ́ tu ̣ng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
* Về kháng cáo, kháng nghị:
Ngày 11/8/2021, bà T nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, bà đề nghi ̣ cấp phúc thẩm xác đi ̣nh di sản của cu ̣ M1 cu ̣ C chi cỏ ̀n 100m2 đất ở và bà yêu cầu được nhâ ̣n di sản bằng hiê ̣n vâ ̣t.
Ngày 20/8/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐKNPT-VKS-DS, đề nghi ̣ Tòa án cấp phúc thẩm sử a bản án sơ thẩm theo hướ ng xác đi ̣nh la ̣i công sứ c bảo quản di sản, chia la ̣i thừ a kế theo yêu cầu khở i kiê ̣n của bà Nguyễn Thi ̣ M, xác định lại án phí các đương sự phải chịu.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đối vớ i kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát, bà đề nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t. Bà T trình bày bà không yêu cầu chia thừa kế của cụ M1, cụ C đối với 141m2 đất ao, không yêu cầu giải quyết công sức đôn lấp 89,3m2 đất ao, không yêu cầu thanh toán công sức bảo quản, tôn tạo đối với 157m2 đất nông nghiệp ở xứ đồng L vì Tòa án sơ thẩm đã giao cho bà được tiếp tục sử dụng 157m2 đất đó.
- Ông Nhâm Đông D trình bày diện tích đất nông nghiệp ông nhận chuyển nhượng của bà T tại xứ đồng L thuộc diện tích hộ gia đình bà T được giao, không thuộc diện tích đất của cụ M1, cụ C để lại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định kháng nghị của Viê ̣n trưở ng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và Bà M, bà T, bà N đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T2 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hô ̣i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, không chấp nhâ ̣n kháng cáo của bà Trần Thi ̣ T. Á p du ̣ng khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đông Hưng, sử a bản sơ thẩm theo hướ ng xác đi ̣nh la ̣i công sứ c bảo quản di sản, chia lại di sản thừ a kế và xác đi ̣nh la ̣i án phi dân sự́
các đương sự phải chi ̣u.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo của Bị đơn – bà Trần Thị T gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định, bà T đã thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, vì vậy kháng cáo là hợp lệ, được giải quyết theo trinh tự phú c thẩm.
̀
Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình ban hành trong thời hạn luật định là hợp lệ.
Về xác đi ̣nh tư cách đương sự: Tòa án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh ông Nhâm Đông D là ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan trong vu ̣ án vi đà nhâ ̣̃
n chuyển nhượng 500m2 đất nông nghiê ̣p của bà Trần Thi ̣ T ta ̣i xứ đồng L. Tuy nhiên trong quá trinh già
̉i quyết vu ̣ án, bà T, ông D đều xác đi ̣nh diê ̣n tích đất các bên chuyển nhượng cho nhau không liên quan đến 157m2 đất của cu ̣ M1, cu ̣ C được giao ta ̣i xứ đồng L mà bà T đang quản lý. Xét viê ̣c giải quyết vu ̣ án không liên quan đến quyền và nghia vu ̣ của ông D, vi vâ ̣y Tòa án cấp phúc thẩm xác đi ̣nh
̃
̀
la ̣i: Ông Nhâm Đông D không tham gia tố tu ̣ng vớ i vai trò Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan trong vu ̣ án.
Về sự vắ ng mă ̣t đương sự: Bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Ngọc T2 vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết đi ̣nh tiếp tu ̣c xét xử vu ̣ án.
Về nô ̣i dung tranh chấ p:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thi ̣ M khở i kiê ̣n yêu cầu chia thừ a kế của bố đẻ là cụ Nguyễn Ngọc M1 (tên gọi khác là Nguyễn Văn T3) và mẹ đẻ là cụ Lê Thị C, khi chết hai cu ̣ đều không để la ̣i di chúc.
Tòa án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh thờ i điểm mở thừ a kế của cu ̣ M1 ngày 25/9/2003, thờ i điểm mở thừ a kế của cu ̣ C ngày 29/4/2004 và xác đi ̣nh hàng thừ a kế thứ nhất của hai cu ̣ gồm 3 ngườ i con đẻ là ông Nguyễn Ngo ̣c B (tứ c T4), bà Nguyễn Thi ̣ M, bà Nguyễn Thi ̣ N - là phù hợp vớ i Giấy chứ ng tử của hai cu ̣, phù hợp vớ i trinh bà
̀y của các đương sự và xác nhâ ̣n của chinh quyền đi ̣́
a phương nơi cu ̣ M1 cu ̣ C cư trú về hàng thừ a kế. Ông B đa chết ngã
̀y 27/01/2015, vi vâ ̣̀ y bà T và anh T2 là vợ và con ông B được hưở ng thừ a kế chuyển tiếp của ông B.
Về xác đi ̣nh di sản thừ a kế: Tòa án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh cu ̣ M1, cu ̣ C để la ̣i di sản gồm 194m2 đất ở ta ̣i thôn T1, xã Đ, Đ1, tỉnh Thái Bình (Theo tài liê ̣u đi ̣a chinh đo đa ̣́
c theo chi thi ̣̉ 299/Ttg là thửa đất số 288, tờ bản đồ số 05, sổ quy chủ mang tên cụ Nguyễn Văn T3. Theo tài liê ̣u đi ̣a chinh đo đa ̣́
c năm 2007 là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 08. Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất lập ngày 10/6/2007 ghi tên chủ hộ là ông Nguyễn Ngọc B, bà Trần Thị T). Ngoài ra hai cu ̣ còn để la ̣i 868m2 đất ruô ̣ng ta ̣i xứ đồng L1 (chia cùng diê ̣n tich đấ
́t nông nghiê ̣p của hô ̣ gia đinh bà
̀ M) và 157m2 đất nông nghiê ̣p ở xứ đồng L (chia cùng diê ̣n tich́ đất nông nghiê ̣p của hô ̣ gia đinh bà
̀ T).
Bà T nhất tri viê ̣c Tòa án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh di sản của cu ̣ M1, cụ C đối
́ vớ i đất nông nghiê ̣p như nêu trên, nhưng không nhất tri đố ́i vớ i diê ̣n tich đấ
́t ở được xác đi ̣nh là di sản, vì cho rằng năm 1986 cu ̣ M1, cu ̣ C đa tã ́ch cho ông B, bà T 94m2 đất ở của thử a đất số 288, tờ bản đồ số 05. Tuy nhiên quá trinh già
̉i quyết vu ̣ án, bà T, anh T2 không cung cấp được hợp đồng tă ̣ng cho quyền sử du ̣ng đất hoă ̣c tài liê ̣u chứ ng cứ thể hiê ̣n ý chí của cu ̣ M1, cu ̣ C tă ̣ng cho đất cho ông B bà T, mà chi cung cẩ
́p được tờ khai thuế ngày 20/3/1993, có nô ̣i dung “Ho ̣ tên ngườ i kê khai: Nguyễn Văn T4 (T3), tổng diê ̣n tich đất phải chi ̣u thuế: 94” và cung cấp
́
“Sơ đồ mă ̣t bằng” có nô ̣i dung “Tên chủ hô ̣: Nguyễn Ngo ̣c B, đi ̣a chỉ: Xóm 6 Đ, diê ̣n tich đấ
́t ở 94m2, diê ̣n tich nhá
̀ ở 18m2” và có ve sơ đỗ
̀, có chữ ký của ông B và đóng dấu xác nhâ ̣n của UBND xa Đ. “Sơ đỗ
̀ mặt bằng” này không đề ngày lâ ̣p, không vẽ lối đi vào diê ̣n tich đấ
́t 94m2, cũng không có chữ ký hoặc điểm chỉ của cụ M1, cụ C. Lờ i khai của bà T ta ̣i Tòa án cấp phúc thẩm thể hiê ̣n, cu ̣ M1 cho vợ chồng bà diê ̣n tich đấ
́t giáp ao, không tiếp giáp mă ̣t ngõ, để đi được vào phần đất đó phải đi qua sân nhà cu ̣ M1. Theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, quyền sử du ̣ng đất là mô ̣t loa ̣i tài sản đă ̣c biê ̣t, khi tă ̣ng cho (chuyển quyền sử du ̣ng đất) phải tuân theo các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t như: Phải lâ ̣p thành văn bản, có chữ ký của bên tă ̣ng cho và bên nhâ ̣n tă ̣ng cho, phải được chính quyền đi ̣a phương chứ ng thực hoă ̣c công chứ ng, sau đó phải được đăng ký ta ̣i cơ quan có thẩm quyền. Mă ̣t khác, để tách thử a đất ở phải đảm bảo điều kiê ̣n có lối đi. Tài liệu địa chính do UBND xã Đ quản lý có “Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất” lập ngày 10/6/2007 đối vớ i diê ̣n tich đấ
́t ở ta ̣i thử a đất số 90, tờ bản đồ số 8, thôn T1, xa Đ, huyê ̣̃
n Đ1, diê ̣n tich 284,6m2 ghi tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Ngọc B, bà Trần Thị T,́ tuy nhiên văn bản đó không phải là tài liệu xác định quyền sử dụng đất hợp pháp của ông B bà T. Mặt khác thờ i điểm đó cu ̣ M1, cu ̣ C đa chết, cã
́c cu ̣ không có di chúc để la ̣i diê ̣n tich đấ
́t ở cho ông B bà T được thừ a kế, cũng không không có văn bản chuyển quyền sử du ̣ng đất nào khác từ 2 cu ̣ cho ông B bà T. Như vâ ̣y viê ̣c bà T trinh bà
̀y cu ̣ M1, cu ̣ C đa tă ̣̃ ng cho đất ông B bà T 94m2 đất ở, nhưng không có tài liê ̣u, chứ ng cứ gi chừ
́ ng minh nên không có cơ sở chấp nhâ ̣n. Tòa án cấp sơ thẩm xác đi ̣nh di sản của cu ̣ M1, cu ̣ C để la ̣i là 194m2 đất ở là có căn cứ . Ta ̣i cấp phúc thẩm, bà T không cung cấp bổ sung được tài liê ̣u chứ ng cứ nào khác làm căn cứ cho trinh bà
̀y của bà, vi vâ ̣̀ y yêu cầu kháng cáo này của bà T là không được chấp nhâ ̣n.
Cụ M1 cu ̣ C còn có quyền sử du ̣ng 141m2 đất ao được quy đổi từ 47m2 đất nông nghiê ̣p (đất ruô ̣ng cấy lúa), thử a đất ao này cụ M1 cụ C được chia sử du ̣ng chung cùng các hô ̣ gia đinh ông Nguyễn Tiến T6 và ông Nguyễn Văn T5 mô ̣̀
t ao diê ̣n tich 239,5m2 ta ̣́
i thử a đất số 81, tờ bản đồ số 8, đo đạc năm 2007 nhưng không phân đi ̣nh vi ̣ tri, ranh giớ
́ i, mốc giớ i cu ̣ thể. Vợ chồng ông B, bà T đa đôñ lấp mô ̣t phần diện tích ao, được 89,3m2 thành mă ̣t bằng vườ n để trồng chuối. Những ngườ i thừ a kế của cu ̣ M1, cu ̣ C không yêu cầu Tòa án chia thừ a kế đối vớ i diê ̣n tich 141m2 đấ
́t ao, bà T cũng không có yêu cầu giải quyết công sứ c đôn lấp đất ao trong vu ̣ án này, xét thấy đây là quyền tự đi ̣nh đoa ̣t của đương sự, phù hợp quy đi ̣nh pháp luâ ̣t, vi vâ ̣y Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết đối vớ i di sản này
̀ là đúng quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, không có kháng cáo, không có kháng nghị về nội dung này, vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm không giải quyết.
Tuy nhiên, do Tòa án cấp sơ thẩm chi xả ́c đi ̣nh công sứ c bảo quản di sản đối với bà T mà không xem xét đến công sức của bà M, xác đi ̣nh công sứ c bảo quản không phù hợp vớ i giá tri ̣ sản, đồng thờ i la ̣i chia thừ a kế cho các thừ a kế rồi mớ i đă ̣t trách nhiê ̣m cho bà M phải thanh toán công sứ c bảo quản di sản cho bà T là không đúng về phương pháp phân chia di sản thừ a kế. Như vâ ̣y kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đông Hưng về những nô ̣i dung này là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm xác đi ̣nh la ̣i như sau:
Ông B, bà T sinh sống trên thử a đất ở cùng cu ̣ M1, cu ̣ C từ khi ông bà kết hôn đến năm 1998 thi chuyển ra khu đất chuyển đổi, lâ ̣p trang tra ̣i và sinh sống ta ̣i
̀ đó đến nay. Bà M về sống cùng cu ̣ M1 cu ̣ C từ năm 1995 đến nay. Quá trình sinh sống, vợ chồng ông B, bà T và bà M đều có công sứ c bảo quản di sản của cụ M1 cụ C để lại nên xác định mỗi người được hưở ng công sứ c bảo quản di sản bằng ½ suất thừ a kế.
Xét giá tri ̣ di sản của cu ̣ M1, cu ̣c C để la ̣i mà đương sự yêu cầu chia thừ a kế, gồm: 194m2 đất ở tri ̣ giá 77.600.000 đồng, 1.025 m2 đất đất nông nghiệp tri ̣ giá 46.125.000 đồng, tổng giá tri ̣ di sản chia thừ a kế yêu cầu giải quyết là 123.725.000 đồng.
Như đa phân tĩ
ch nêu trên, bá
̀ M được hưở ng công sứ c bảo quản di sản là ½ suất thừ a kế, bà T được hưở ng công sứ c bảo quản di sản là ½ suất thừ a kế. Như vâ ̣y, mỗi suất thừ a kế được hưở ng giá tri ̣ di sản là 123.725.000 đồng : 4 = 30.931.250 đồng.
Giá tri ̣ di sản bà M được hưở ng là 1,5 suất x 30.931.250 đồng = 46.396.875 đồng; giá tri ̣ di sản bà T và anh T2 được hưở ng là 1 suất thừ a kế = 30.931.250 đồng; Bà T còn được hưở ng giá tri ̣ công sứ c bảo quản di sản là ½ suất thừ a kế = 15.465.625 đồng; giá tri ̣ di sản bà N được hưở ng 1 suất thừ a kế là 30.931.250 đồng. Xét viê ̣c bà N tự nguyê ̣n nhườ ng toàn bô ̣ di sản bà được hưở ng cho bà M mà không yêu cầu bà M phải thanh toán giá tri ̣ di sản, như vâ ̣y đây là viê ̣c tă ̣ng cho di sản của bà N cho bà M, viê ̣c tă ̣ng cho này không trái pháp luâ ̣t, cần chấp nhâ ̣n. Như vậy bà M được hưởng tổng giá trị di sản là 77.328.125 đồng (làm tròn là 77.328.000 đồng).
Do bà T đang quản lý sử du ̣ng 157m2 đất nông nghiê ̣p ta ̣i xứ đồng L, đa ̃ nhâ ̣p vào khu chuyển đổi làm trang tra ̣i tổng hợp của gia đinh bà T, còn diện tích
̀ 868m2 đất nông nghiê ̣p ta ̣i xứ đồng L1 được chia cùng diê ̣n tich đấ
́t nông nghiệp của hô ̣ gia đinh bà
̀ M, vi vâ ̣̀ y Tòa án sơ thẩm đã giao cho bà T, anh T2 được sử du ̣ng 157m2 đất nông nghiê ̣p ta ̣i xứ đồng L và giao cho bà M sử du ̣ng 868m2 đất nông nghiê ̣p ta ̣i đồng L1 là phù hợp vớ i hiê ̣n tra ̣ng và nhu cầu sử du ̣ng của các đương sự.
Đối vớ i đất ở , xét thấy hiê ̣n nay bà M đa xây dự̃
ng trên diê ̣n tich đấ
́t ở gồm nhà cấp 4, công trinh phu ̣, bể nướ c, sân, tườ ng bao và hiê ̣n đang sinh sống ổn đi ̣nh
̀ trên thử a đất đó, còn bà T từ năm 1998 đến nay sinh sống ta ̣i khu trang tra ̣i của gia đinh bà. Để đảm bảo viê ̣c sử du ̣ng ổn đi ̣nh, hợp lý đất ở , phòng ngừ a những tranh ̀ chấp, mâu thuẫn kéo dài trong sinh hoa ̣t sau này, cần giao cho bà M được quyền sử du ̣ng toàn bô ̣ đất ở của cu ̣ M1 cu ̣ C để la ̣i là 194m2.
Như vâ ̣y, xác đi ̣nh di sản bà M được giao sử du ̣ng tri ̣ giá 116.660.000 đồng (77.600.000 đồng + 39.060.000 đồng).
Di sản bà T, anh T2 được giao sử du ̣ng trị giá 7.065.000 đồng.
Đối trừ vớ i giá tri ̣ di sản bà T, anh T2 được giao sử du ̣ng bằng hiê ̣n vâ ̣t, thi ̀ bà M phải thanh toán giá tri ̣ di sản cho bà T và anh T2 là 23.866.250 đồng, phần mỗi ngườ i là 11.933.125 đồng, thanh toán cho bà T công sứ c bảo quản di sản là 15.465.625 đồng.
Ngoài ra, trên đất bà T còn trồng 43 khó m chuối, cần giao toàn bô ̣ số chuối này cho bà M sử du ̣ng, bà M có trách nhiê ̣m thanh toán giá tri ̣ các khóm chuối đó cho bà T theo giá đa đượ̃
c Hô ̣i đồng đi ̣nh giá xác đi ̣nh ta ̣i Tòa án cấp sơ thẩm là 1.333.000 đồng.
Như vâ ̣y, bà M phải thanh toán giá tri ̣ di sản cho bà T tổng là 28.731.750 đồng (làm tròn là 28.732.000 đồng) và thanh toán cho anh T2 là 11.933.125 đồng (làm tròn là 11.933.000 đồng).
Do Tòa án cấp phúc thẩm quyết đi ̣nh la ̣i phần di sản các đương sự được hưở ng, vi vâ ̣̀ y căn cứ khoản 2 Điều 148 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự, khoản 4 Điều 26 Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/11/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần xác đi ̣nh la ̣i án phi dân sự́
các đương sự phải chi ̣u, tương ứ ng vớ i 5% giá tri ̣ di sản được hưở ng như sau:
Bà M phải chi ̣u án phi đố ́i vớ i di sản bà được hưở ng và được bà N tă ̣ng cho, tổng di sản giá tri ̣ là 77.328.125 đồng x 5% = 3.866.406 đồng, làm tròn thành 3.866.400 đồng.
Bà T phải chi ̣u án phi đố ́i vớ i giá tri ̣ di sản được hưở ng là 28.732.000 đồng x 5% = 1.436.600 đồng.
Anh T2 phải chi ̣u án phi đố ́i vớ i giá tri ̣ di sản được hưở ng là 11.933.000 đồng x 5% = 596.650 đồng, làm tròn là 596.600 đồng.
Bà N không phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩm.
́
Từ những phân tich, đá
́nh giá trên đây, Hô ̣i đồng xét xử thấy:
Không có căn cứ để chấp nhâ ̣n kháng cáo của bà Trần Thi ̣ T. Chấp nhâ ̣n toàn bô ̣ kháng nghi ̣ của Viê ̣n Kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đông Hưng tinh Thả
́i Binh. Sử a bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DSST ngày 06/8/2021 của Tòa án ̀ nhân dân huyê ̣n Đông Hưng tỉnh Thái Bình về các nội đa nêu trên.̃
Về án phi dân sự phúc thẩm: Do chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ của Viê ̣n kiểm
́ sát, sử a bản án sơ thẩm nên bà T không phải chi ̣u án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhâ ̣n kháng cáo của bà Trần Thi ̣ T.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng dân sự: Chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ số 02/QĐKNPT-VKS-DS ngày 20/8/2021 của Viê ̣n trưở ng Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Đông Hưng, tinh Thả
́i Binh. Sử a bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DSST
̀ ngày 06/8/2021 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Đông Hưng, tinh Thả
́i Bình:
Căn cứ vào các Điều 147, 294, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Chấp nhâ ̣n yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M về viê ̣c chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Nguyễn Ngọc M1 (tức Nguyễn Văn T3) và cụ Lê Thị C.
[1.1] Chấp nhâ ̣n viê ̣c bà Nguyễn Thị N tă ̣ng cho kỷ phần di sản được hưở ng của cu ̣ Nguyễn Ngo ̣c M1 và cu ̣ Lê Thi ̣ C cho bà Nguyễn Thi ̣ M.
[1.2] Giao cho bà Nguyễn Thị M được quyền quản lý, sử dụng 194m2 đất ở tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 05/DC bản đồ 299/TTg (Theo tài liê ̣u bản đồ đo đạc năm 2007 là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 08) tại thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình, kich thướ
́ c thử a đất: Phía Đông (từ điểm 1 đến điểm 2, điểm 3 và điểm 4) dài (4,28+ 4,53+3,35)m giáp đất ngõ đi của thôn T1. Phía Tây (từ điểm 9 đến điểm 12) dài 7.76m giáp phần đất ao đã đôn lấp. Phía Nam (từ điểm 4 đến điểm 5, điểm 12) dài (18,74+1,38)m giáp đất hộ gia đình ông Bùi Văn T7. Phía Bắc (từ điểm 1 đến điểm 11, điểm 10 và điểm 9) dài (7,02+4,85+4,15)m giáp đất hộ gia đình ông Nguyễn Tiến T6. (Có sơ đồ kèm theo bản án).
Giao cho bà M sở hữu 43 khóm chuối trồng ta ̣i thử a đất số 90, tờ bản đồ số 08 thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
Giao cho bà M được quyền sử du ̣ng 868m2 đất nông nghiê ̣p ta ̣i xứ đồng L1, thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
[1.3] Giao cho bà Trần Thị T, anh Nguyễn Ngo ̣c T2 được sử dụng 157m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng L, thôn T1, xã Đ, huyện Đ1, tỉnh Thái Bình.
[1.4] Bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm thanh toán giá trị di sản thừa kế, công sứ c bảo quản di sản và giá tri ̣ 43 khó m chuối cho bà Trần Thị T là 28.732.000 đồng (hai mươi tám triệu bẩy trăm ba mươi hai ngàn đồng).
[1.5] Bà Nguyễn Thi ̣ M có trách nhiê ̣m thanh toán giá trị di sản thừa kế cho anh Nguyễn Ngo ̣c T2 là 11.933.000 đồng (mười một triệu chín trăm ba mươi ba ngàn đồng)
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bi ̣ cá o còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà Nguyễn Thị M phải chịu 3.866.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền ta ̣m ứ ng án phi lá ̀ 3.000.000 bà M đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai số 0006461 ngày 17/11/2020 ta ̣i Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyê ̣n Đông Hưng tỉnh Thái Binh sang̀ thi hành án phi, bá ̀ M còn phải nô ̣p tiếp 866.400 đồng.
Bà Trần Thị T phải chịu 1.436.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Ngọc T2 phải chịu 596.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà T không phải chi ̣u án phi dân sự phúc thẩm. Trả la ̣i bà T 300.000 đồng
́
án phi dân sự phúc thẩm đa nô ̣̃ p ta ̣i Biên lai số 0002820 ngày 11/8/2021 ta ̣i Chi
́ cu ̣c thi hành án dân sự huyê ̣n Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
[3] Các quyết đi ̣nh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghi ̣ có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t kể từ ngày hết thờ i ha ̣n kháng cáo, kháng nghi ̣.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 27/12/2021.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND huyện Đông Hưng; - Chi cục THADS huyện Đông Hưng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu HC-TP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thanh Bình |