vanban.org

Bản án 47/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Quang V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Quang V 09 ( chín ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2019. Vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Quang V – Sinh năm 1980. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 147 HB, phường HB, quận HK, thành phố Hà Nội, Nghề nghiệp: Lao…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Quang V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2020/HSST
Ngày: 28 / 4 /2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Ngô Thị Yêm

2/ Ông Nguyễn Tuấn Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 / 4 /2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2020/HSST ngày 27 tháng 03 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45 ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo.

Họ và tên: Trƣơng Quang V – Sinh năm 1980. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: 147 HB, phường HB, quận HK, thành phố Hà Nội, Nghề nghiệp: ao động tự do. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông: Trương Quang N ( đã chết ); Con bà: Nguyễn Thúy H. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự:

+Ngày 21/01/2014, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 09/7/2015. Xác minh thi hành án xác định bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Đã được xóa án tích.

+Ngày 27/12/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 02/10/2018. Chưa được xóa án tích.

Phạm tội lần này là tái phạm.

Bị caó bị tạm giữ từ ngày 31/12/2019; tạm giam từ ngày 06/01/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20h15’ ngày 30/12/2019, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại thôn Hậu Dưỡng, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội phát hiện Trương Quang V có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành điều tra. Qua kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện và thu giữ trong cốp xe máy nhãn hiệu Honda Weve có số khung: 328266, số máy: 1193258, BKS 29C1 - 663.68 của Trương Quang V có 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (5x6)cm bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (5x6)cm bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4x5)cm bên trong có 49 viên nén hình tròn màu hồng và 01 viên nén hình tròn màu xanh; 02 gói nilon màu trắng, đều có kích thước (4x5)cm bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng, V khai là ma túy tổng hợp. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ vật chứng cùng phương tiện phạm tội, niêm phong vật chứng rồi đưa Trương Quang V về trụ sở Công an huyện Đông Anh để tiếp tục điều tra làm rõ.

Ngoài còn thu giữ của Trương Quang V: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu đen, lắp sim số thuê bao: 0846266368; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, màu đen, lắp sim số thuê bao: 0865889231 và 0916362736; 01 Căn cước công dân mang tên Trương Quang V.

Tại bản kết luận giám định số 205/K GĐ-PC09 ngày 07/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

-Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 9,776 gam.

-01 túi nilon bên trong chứa:

+49 viên nén hình tròn màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 4,944 gam.

+01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là ma túy, khối lượng 0,094 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trương Quang V khai nhận: Khoảng giữa tháng 12/2019 ( không rõ ngày cụ thể ) do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp nên V đã đi một mình đến khu vực đường Tôn Đức Thắng thuộc phường Đống Đa, Hà Nội ( không rõ địa chỉ cụ thể ) để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, V gặp và mua 50 viên ma túy “ngựa” với giá 1.500.000 đồng và 02 túi nilon ma túy “ đá’ với giá 2.500.000 đồng của một người phụ nữ không quen biết đang đứng ở ven đường. Sau khi mua được ma túy, V đã sử dụng hết một phần ma túy “Đá”, số ma túy còn lại V luôn cất giấu trong người để sử dụng dần. Đến ngày 30/12/2019, do không còn tiền để tiêu, nên V đã lấy số ma túy còn lại ( gồm 50 viên ma túy “ Ngựa” và 02 túi nilon ma túy “Đá”) cất giấu vào trong cốp xe máy BKS: 29C1 – 663.68 mục đích để đi đến nhà một người ban tên là C ở Hậu Dưỡng, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội để hỏi C nếu có biết khách mua thì V sẽ bán lại cho toàn bộ số ma túy trên với giá 6.000.000 đồng. Đến khoảng 17h30’ ngày 30/12/2019, V đi xe máy BKS: 29C1 – 663.68 một mình từ nhà đến nhà C để gặp C. Khi V đến Hậu Dưỡng, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội chưa kịp gặp C thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Việc V đến tìm C không liên lạc trao đổi gì với C trước, V không có số điện thoại liên lạc với C.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho V, do V khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.

Đối với nam thanh niên tên C, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Kim Chung xác định: Không có công dân nào tên C có đặc điểm như V khai.

Đối với 01 chiếc nhãn hiệu Mastel lắp sim số thuê bao 0846266368; 01 chiếc nhãn hiệu Xiaomi lắp sim số thuê bao: 0865889231 và 0916362763 và 01 Căn cước công dân mang tên Trương Quang V là tài sản hợp pháp của V, không liên quan đến vụ án. Ngày 25/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho bà Nguyễn Thúy H ( SN:1949; Trú tại: 147 HB, phường HB, quận HK, Hà Nội – là mẹ đẻ của V ) được ủy quyền nhận lại tài sản trên.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave & có số khung: 328266, số máy: 1193258; Qua điều tra xác định chủ sở hữu là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Chiến T ( SN: 1991; Nơi cư trú: Số 5 nghách 766/9 đường T, GV, BĐ, Hà Nội). Anh T không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của V. Ngày 25/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh Nguyễn Chiến T.

Đối với biển số xe 29C1 – 66368 được lắp vào xe máy Honda Wave &, do V khai nguồn gốc biển số xe là do V nhặt được ngoài đường trước ngày bị bắt khoảng 02 ngày. Tra cứu biển kiểm soát xác định BKS 29C1-66368 đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyễn Đình C1 ( Địa chỉ: 28 HC, HM, HK, Hà Nội). ấy lời khai của ông Nguyễn Đình C1 xác định: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu xanh đen, số khung: 023644, số máy: 0574895 đăng ký chủ sở hữu mang tên ông và được cấp biển số 29C1-66368. Ông C1 đã sử dụng chiếc xe máy này từ thời điểm mua năm 2017 cho đến nay, không bị mất mát thay đổi gì về xe, vẫn giữ nguyên biển số, số khung, số máy. Do đó, đối với 01 biển kiểm sát 29C1-66368 cần chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết.

Đối với 01phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Trương Quang V, cán bộ niêm phong và 04 Giám định viên bên trong gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon kích thước (4x5)cm có tổng khối lượng 9,103 gam là ma túy loại Methamphetamine (sau trích mẫu giám định 0,673gam); 49 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 4,243 gam (sau trích mẫu giám định: 0,701 gam); 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 0,094 gam thu giữ của Trương Quang V là vật chứng của vụ án chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSĐA ngày 23 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố Trương Quang V về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt Trương Quang V với mức án từ 9 ( chín ) năm 06 ( sáu ) tháng tù đến 10 ( mười ) năm 06 ( sáu ) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về vật chứng của vụ án.

-Tịch thu tiêu hủy:

+01 biển số xe 29C1-66368.

+01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Trương Quang V, cán bộ niêm phong và giám định viên bên trong có chứa ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đông Anh đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố, xét xử.

Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. ời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Do đó xác định được: Hồi 20h15 phút ngày 30/12/2019, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an huyện Đông Anh làm nhiệm vụ tại thôn Hậu Dưỡng, Kim Chung, Đông Anh, Hà Nội phát hiện và thu giữ của V 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước (5x6)cm bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, kích thước (4x5)cm bên trong có 49 viên nén hình tròn màu hồng và 01 viên nén hình tròn màu xanh; 02 túi nilon màu trắng, đều có kích thước (4x5)cm bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng, V khai là ma túy tổng hợp, mục đích để đi đến nhà một người bạn tên là C ở HD, KC, ĐA, Hà Nội để hỏi C nếu biết có khách mua thì V sẽ bán toàn bộ số ma túy trên, nhưng chưa kịp gặp C thì bị phát hiện bắt giữ. Tại ban kết luận giám định số 1136/K GĐ ngày 31/12/2019 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố Hà Nội kết luận:

-Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 9,776 gam.

-01 túi nilon chứa:

+49 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 4,944 gam.

+01 viên nén hình tròn màu xanh không phải là ma túy, khối lượng 0,094 gam.

Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Trương Quang V đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hành vi và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, làm lây lan các loại tội phạm khác và cũng là một nguyên nhân làm phát sinh căn bệnh HIV.

Xét nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có 02 tiền án.

+ Ngày 21/01/2014, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 09/7/2015. Xác minh thi hành án xác định bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

+ Ngày 27/12/2017, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 18 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 02/10/2018. Chưa được xóa án tích

Phạm tội lần này là tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo có công với cách mạng.

Xét về tính chất của vụ án cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để làm rõ. Khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với nam thanh niên tên Chất, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã Kim Chung xác định: Không có công dân nào tên Chất có đặc điểm như Vũ đã khai nên không có cơ sở giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số thuê bao: 0846266368; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi lắp sim có số thuê bao: 0865889231 và 0916362736 và 01 Căn cước công dân mang tên Trương Quang V là tài sản hợp pháp của V, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 25/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các tài sản trên cho bà Nguyễn Thúy H là mẹ đẻ của V, được V ủy quyền nhận lại số tài sản trên là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave & có số khung: 328266, số máy: 1193258; Qua điều tra xác định chủ sở hữu là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Quang T. Anh T không biết và không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của V. Ngày 25/02/2020, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho anh Nguyễn Chiến T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với biển số xe 29C1 – 66368 được lắp vào xe máy Honda Wave &, do V khai nguồn gốc biển số là do V nhặt được ngoài đường trước ngày bị bắt khoảng 02 ngày. Tra cứu biển kiểm soát xác định BKS 29C1 – 66368 đăng ký chủ sở hữu mang tên Nguyến Đình C1. ấy lời khai của ông C1 xác định: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, màu xanh đen, SK: 023644, SM: 0574895 đăng ký chủ sở hữu mang tên ông và được cấp biển số 29C1 – 66368. Ông C1 đã sử dụng chiếc xe máy này từ thời điểm mua năm 2017 cho đến nay, không bị mất mát thay đổi gì về xe, vẫn giữ nguyên biển số, số khung, số máy. Do đó, chiếc biển kiểm soát 29C1-66368 cần cho tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.

Đối với 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Trương Quang V, cán bộ niêm phong và GĐV bên trong gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon kích thước (4x5)cm có tổng khối lượng 9,103 gam là ma túy loại Methamphetamine (sau trích mẫu giám định 0,673 gam); 49 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 4,324 gam (sau khi trích mẫu giám định: 0,701 gam); 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 0,094 gam thu giữ của Trương Quang V là vật chứng vủa vụ án cần tịch thu tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc ổn định nên không áp dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trương Quang V phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47, Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; Điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo

Xử phạt bị cáo Trương Quang V 09 ( chín ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2019.

Vật chứng vụ án:

+Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe BKS: 29C – 66368

+Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký xác nhận của Trương Quang V, cán bộ niêm phong và Giám định viên bên trong gồm: Tinh thể bên trong 02 túi nilon kích thước (4x5)cm có tổng khối lượng 9,103 gam là ma túy loại Methammethamine (sau trích mẫu giám định 0,673 gam); 49 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 4,243 gam ( sau trích mẫu giám định: 0,701 gam); 01 viên nén hình tròn màu xanh có khối lượng 0,094 gam.

Chi tiết tang vật thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/3/2020 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đông Anh với Chi cục thi hành án huyện Đông Anh.

Bị cáo Trương Quang V phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Án sử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi Nhận:

Cỡ chữ