vanban.org

Bản án 47/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mùa Thị M phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa Thị M 03( Ba) năm 06( Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa Thị M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa Thị M phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 47/2020/HS-ST.
Ngày: 23/7/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Huấn và bà Nguyễn Thị Tam.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Phương - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo.

Mùa Thị M; tên gọi khác, không, năm 1992, sinh tại: huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Trú tại; Bản C, xã L, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không, Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: 6/12; Đảng phái, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Mùa A N và bà Giàng Thị X; bị cáo có chồng là Sồng A C và 02 con, con lớn sinh năm 2012 con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 27/4/2020 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 15 giờ, ngày 27/4/2020, tổ công tác Công an xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, làm nhiệm vụ tại khu vực bản Co L, xã L, huyện Vân Hồ kiểm tra phát hiện thu giữ. Phát hiện Sồng A T, sinh năm 1996, trú tại: Bản Co Lóng, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Tềnh 01 gói nilon màu đen bên trong đựng một mảnh hồng phiến, T khai nhận là đã mua ma túy của Mùa Thị M, trú tại; Bản Co Lóng, xã vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Mở rộng điều tra, ngày 27/4/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ đã ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mùa Thị M tại bản C, xã L, huyện Vân Hồ. Quá trình khám xét M đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu xanh bên trong đựng 27 (hai mươi bẩy) viên Hồng phiến và 100.000 (Một trăm nghìn) đồng là tiền bán ma túy cho Tềnh.

Cân tịnh xác định khối lượng mảnh nén màu hồng thu giữ của Sồng A Tềnh được 0,05 gam lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu T. Số 27 viên nén màu hồng thu giữ của Mùa Thị M được tổng khối lượng 2,62 gam, lấy 05 viên khối lượng 0,5 gam làm mẫu giám định ký hiệu M. Mẫu T và M được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy. Kết luận giám định số: 684 ngày 30/4/2020 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T, M đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu T = 0,05 gam, M = 0,5 gam. Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ được là 2,67 gam Methamphetamine”. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Mùa Thị M và Sồng A Tềnh khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 27/4/2020 tại khu vực đường dân sinh bản Co Lóng, xã Lóng Luông Mao đã gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi không quen biết và hỏi mua được của người đó 29 viên Hồng phiến bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 1.950.000 (một triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng, M cầm gói ma túy về nhà cất ở đầu giường ngủ của mình mục đích có ai mua thì bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì Sồng A T đến nhà Mao hỏi mua ma túy, M vào giường ngủ lấy 02 (hai) viên Hồng phiến gói vào mảnh nilon màu đen bán cho T với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng, số 27 viên Hồng phiến còn lại Mao cất giấu ở vị trí cũ. Sau khi mua được ma túy, Tềnh đã sử dụng hết hơn 1 viên, nửa viên còn lại T gói lại cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về nhà, khi T về đến khu vực bản C, xã L thì bị tổ công tác Công an xã Lóng Luông kiểm tra phát hiện thu giữ gói ma túy.

Tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Mùa Thị M về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùa Thị M phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Mùa Thị M mức án từ 42 (Bốn mươi hai) tháng đến 48 (Bốn mươi tám) tháng tù.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì bên trong đựng 2,12 gam Methamphetamine + 02 phong bì bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử thai đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Sồng A T; 01 túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 100.000đồng tiền bị cáo bán ma túy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 27/4/2020, Mùa Thị M bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ 2,62 gam Methamphetamine, mục đích mua để bán kiếm lời. Người ra Mùa Thị M còn bán cho Sồng A T 02 viên Methamphetamine, T đã sử dụng hết hơn một viên còn lại 0,05 gam Methamphetamine. Do vậy Sồng Thị Mao phải chịu trách nhiệm với tổng số ma túy thu giữ của M và T là 2,67 gam Methamphetamine, khối lượng ma túy đã vi phạm khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ tác hại của ma túy, là vật cấm lưu hành, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Do hám lợi, bị cáo coi thường pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng của bị cáo: Đối với 01 phong bì bên trong đựng 2,12 gam Methamphetamine + 02 phong bì bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử thai đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Sồng A T; 01 túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng, là những vật cấm lưu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 100.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Sồng A T là tiền do phạm tội mà có lên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, không có căn cứ để xử lý.

Đối với Sồng A T có hành vi tàng trữ trái phép 0,05 gam Methamphetamine, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan Công an huyện Vân Hồ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mùa Thị M phạm tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa Thị M 03( Ba) năm 06( Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

2. Về vật chứng vụ án: căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 2,12 gam Methamphetamine + 02 phong bì bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử thai đối với Mùa Thị M; 01 phong bì bên trong đựng que thử ma túy đối với Sồng A Tềnh; 01 túi vải thổ cẩm đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước 100.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Sồng A Tềnh là tiền do phạm tội mà có.

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mùa Thị M phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ