vanban.org

Bản án 47/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tạ Hồng T và chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Mỹ D, sinh ngày 23/5/2008 cho anh Tạ Hồng T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị M được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T yêu cầu ly hôn chị M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tạ Hồng T và chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47 /2020/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2020
V/v “Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Chí Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Minh Châu

2. Ông Trần Hữu Thiện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân Huyện D.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D tham gia phiên toà: Bà Lâm Phượng Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D xét xử công khai vụ án thụ lý số: 42/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Tạ Hồng T; sinh năm 1981. Địa chỉ : Ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử mặt).

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M; sinh năm: 1987. Địa chỉ : Ấp K, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 02 năm 2020 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn anh Tạ Hồng T trình bày :

Anh và chị Nguyễn Thị M tự nguyện chung sống từ năm 2007; có đăng ký kết hôn ngày 03/10/2007 tại UBND xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, mâu thuẫn về tiền bạc, hai vợ chồng thường xuyên gây gổ, chị M gây nợ nần, vợ chồng ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Từ đó anh thấy cuộc sống vợ chồng không hợp nhau nên không thể tiếp tục chung sống được nên yêu cầu ly hôn chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Có 01 cháu Tạ Thị Mỹ D, sinh ngày 23/5/2008, hiện con chung đang sống anh. Nay vợ chồng ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc con chung Tạ Thị Mỹ D, anh không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng nhưng chị Nguyễn Thị M vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử; Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn anh Tạ Hồng T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71, Khoản 1 Điều 228 và 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do xem như từ chối quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ án này theo quy định tại điều 70, 72, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tạ Hồng T đối với chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Giao anh T tiếp tục chăm sóc con chung Tạ Thị Mỹ D, ghi nhận anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Tạ Hồng T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định pháp luật. Chị Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị M vắng mặt không có lý do, căn cứ Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự nên Hội đồng xét xữ tiến hành xét xử vắng mặt chị M là đúng theo quy định của pháp luật. Chị M phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Anh Tạ Hồng T và chị Nguyễn Thị M tự nguyện chung sống năm 2007, có đăng ký kết hôn ngày 03/10/2007 tại UBND xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh nên công nhận đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T và chị M bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn với nhau vì chị M không lo làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay nhưng anh và chị M vẫn không có giải pháp đoàn tụ. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T đối với chị M là có căn cứ.

Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Mỹ D, sinh ngày 23/5/2008 cho anh Tạ Hồng T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị M được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Tạ Hồng T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; 53; 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình ; Điều 28, Khoản 4; Điều 147; Khoản 2; Điều 227; Khoản 1; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Tạ Hồng T và chị Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Mỹ D, sinh ngày 23/5/2008 cho anh Tạ Hồng T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ghi nhận anh T không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị M được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Tạ Hồng T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh theo biên lai thu số 0004149 ngày 07/02/2020 (đã nộp xong).

Anh Tạ Hồng T và chị Nguyễn Thị M vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ