- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà P và ông L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Trúc P:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2020/HNGĐ-ST Ngày 20 - 01 - 2020 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phẹo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Lợi;
2. Bà Phạm Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1310/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Trúc P, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: Số 881/18 Tỉnh lộ 15, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trần Bửu L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 61 đường Bùi Thị Điệt, ấp 3, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 04/9/2019, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim Trúc P trình bày:
Bà và Ông Trần Bửu L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/02/2016. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại nhà chồng một thời gian ở xã P, sau đó bà sinh em bé và chuyển về nhà cha mẹ ruột của bà sinh sống, ông L cũng qua nhà cha mẹ ruột bà để ở luôn. Rồi ông L bỏ nhà đi đâu đó hơn nửa năm, bà có hỏi thì ông L không nói. Ông L thường hay bỏ nhà đi, mà mỗi lần bỏ đi thì khi trở về nhà ông L đều nói bị đổ nợ do cờ bạc. Bà đã khuyên và đã phụ trả nợ vài lần, vòng vàng đám cưới và cả chiếc xe máy mẹ bà cho bà trước khi cưới đều đã bị ông L bán để trả nợ hết, số nợ còn lại do mẹ chồng trả phụ. Do nợ nần và không có việc làm ổn định nên ông L rất ít phụ chăm lo cho gia đình, trước đây thì không có đưa tiền về lo cho gia đình, sau khi sinh con khoảng 2 năm gần đây thì ông L mới có đưa tiền phụ lo cho con, mỗi tháng đưa khoảng 1.000.000 đồng, có khi đưa nhiều hơn, nhưng cũng có khi không có đưa tiền. Mặc dù ông L đã có sự thay đổi hơn so với trước nhưng do ở xa, lại không ở chung với nhau đã 3 năm, ông L cũng hay bỏ nhà đi, tính tình thay đổi, hai đứa nói chuyện không hợp nhau, do đó gia đình hai bên đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt được kết quả. Nay nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà P trình bày có 01 (một) con chung tên Trần Gia Cát L, sinh ngày 23/9/2016, Bà P yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ dân sự chung: Bà P trình bày không có.
Ông Trần Bửu L đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L vẫn không đến Tòa để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với ông L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 04/9/2019, bà Nguyễn Kim Trúc P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với Ông Trần Bửu L hiện đang cư trú tại: Số 61 đường Bùi Thị Điệt, ấp 3, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Bửu L đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L vẫn không đến để tham gia phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Ông Trần Bửu L theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Kim Trúc P và Ông Trần Bửu L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/02/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét lời trình bày của bà Nguyễn Kim Trúc P thì sau kết hôn giữa bà và ông L đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống, đã không cảm nhận thấy hạnh phúc nên thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân là do ông L không quan tâm đến gia đình, thường xuyên bỏ nhà đi chơi, nợ nần bài bạc, bà đã phụ trả tiền nợ vài lần và đã cố gắng khuyên ngăn ông L nhiều lần nhưng ông L vẫn không thay đổi. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Ông L đã được Tòa triệu tập nhưng ông không đến Tòa, đồng thời cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến chứng tỏ ông L không muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa Bà P và ông L đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn quan hệ vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho Bà P được ly hôn với ông L theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Theo giấy Trích lục khai sinh số 603/TLKS-BS ngày 19/10/2016 thể hiện giữa Bà P và ông L có 01 (một) con chung tên Trần Gia Cát L, sinh ngày 23/9/2016. Bà P trình bày hiện nay con đang sống chung với bà. Xét trẻ Trần Gia Cát L còn rất nhỏ, hiện đang chung sống với mẹ, để tạo tâm lý ổn định cho trẻ nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho Bà P nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, Bà P tạm thời không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà P trình bày không có.
Ông Trần Bửu L vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, nếu ông L có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Kim Trúc P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim Trúc P:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Kim Trúc P được ly hôn với Ông Trần Bửu L.
Kể từ ngày 20/01/2020, Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/02/2016 không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trần Gia Cát L, sinh ngày 23/9/2016.
Bà Nguyễn Kim Trúc P được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 01 (một) con chung; ghi nhận sự tự nguyện của Bà P không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Ông L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông L.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Kim Trúc P trình bày không có.
4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà Nguyễn Kim Trúc P trình bày không có.
Nếu ông L có tranh chấp về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.
5. Về án phí sơ thẩm: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Kim Trúc P phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) Bà P đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0022878 ngày 23/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
6. Các nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - UBND xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Phẹo |