vanban.org

Bản án 47/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Tuyên án 21/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

589; 591 Bộ luật Dân sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Xử phạt bị cáo Lò Văn D 03 năm 06 tháng tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lò Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? 589; 591 Bộ luật Dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 47/2019/HSST
Ngày: 21/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Cao Thị Hồng Minh.

2. Bà Lò Thị Dỉnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2019/HS-ST ngày 11/7/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 08/3/1994, tại Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 06, xã H, huyện Đ, tỉnh B.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12.

Con ông: Lò Văn H, sinh năm 1962 và con bà Tòng Thị Y, sinh năm 1962.

Vợ: Cà Thị X, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo Lò Văn D bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 01/3/2019 cho đến nay. Có mặt.

Người bị hại: Nạn nhân bà Đoàn Thị Tr, sinh năm 1949; trú tại: Tổ 8, phường T, thành phố Đ, tỉnh B.

Chết ngày 03/02/2019 do tai nạn giao thông.

Nguời đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại: Anh Vương Quốc Việt, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 8, phường T, thành phố Đ, tỉnh B. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Đội 6, xã H, huyện Đ, tỉnh B. Vắng mặt có lý do.

Người làm chứng: Chị Cà Thị X, sinh năm 1999; địa chỉ: Đội 6, xã H, huyện Đ, tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 02/02/2019, Lò Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44 chở sau là chị Cà Thị X (Vợ D) đi theo hướng thành phố Điện Biên Phủ đi huyện Mường Chà. Khi đi đến Km 192+800, Quốc lộ 12, đường Nguyễn Hữu Thọ thuộc tổ 9, phường T, thành phố Điện Biên Phủ do không chú ý quan sát, không tuân thủ tốc độ xe chạy trên đường đã gây tai nạn, hậu quả:

Về người: Cả ba người bị văng xuống đường; bà Tr bất tỉnh được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên cấp cứu, đến ngày 03/02/2019 thì tử vong; D và chị X không bị thương tích.

Về tài sản: Xe mô tô 27B1 - 204.44 bị hư hỏng tổng trị giá trị thiệt hại là 200.000 đồng; xe đạp bị hư hỏng tổng trị giá trị thiệt hại là 300.000 đồng.

BL số: 27, 28 (Bản kết luận định giá tài sản).

Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn tại Km 192+800, Quốc lộ 12, đường Nguyễn Hữu Thọ, thuộc tổ 9, phường T, thành phố Điện Biên Phủ, là đường dải nhựa một chiều, có dải phân cách cố định, không bị che khuất tầm nhìn, lòng đường rộng 10m, có vạch kẻ sơn trắng liền phân cách giữa làn đường dành cho xe cơ giới và xe thô sơ.

Tại hiện trường để lại 03 vết cày và 01 vét trượt lốp xe đều theo hướng thành phố Đ đi huyện Mường Chà, điểm đầu vết cày số 01 cách mép đường bên phải 3,45m, điểm cuối cách 3,40m, vết cày dài 0,57m; điểm đầu vết cày 02 cách mép đường bên phải là 5m, điểm cuối cách 5,8m, vết cày dài 4,lm; điểm đầu vết cày 03 cách mép đường bên phải là 3,2m, điểm cuối cách 4,35m, vết cày dài 3,2m; điểm đầu vết trượt lốp cách mép đường bên phải là 3,35m, điểm cuối cách 4,35m, vết trượt lốp dài 06m. Trục trước của xe mô tô 27B1 - 204.44 cách mép đường bên phải 5,35m, trục sau cách 6,25m; trục trước và trục sau xe đạp cách mép đường bên phải 6,lm. Hiện trường có 01 vết máu kích thước 0,7m x 0,8m, cách mép đường bên phải 3,55m. Bà Tr bất tỉnh được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên cấp cứu, đến ngày 03/02/2019 thì tử vong; D và chị X không bị thương tích.

BL sổ: 33-35 (Biên bản khám nghiệm hiện trường); BL sổ: 56 -59 (Biên bản khảm nghiệm phương tiện); BL số: 110-114 (Biên bản ghi lời khai Cà Thị X); BL sổ: 117-118 (Biên bản ghi lời khai Bùi Trung Kiên); BL số 87-101 (BB ghi lời khai, BB hỏi cung bị can Lò Vãn D).

Tại cơ quan điều tra, Lò Văn D khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 02/02/2019, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44 chở sau là chị Cà Thị X (Vợ D) đi theo hướng thành phố Đ đi huyện Mường Chà. Khi đi đến Km 192+800, Quốc lộ 12, đường Nguyễn Hữu Thọ, thuộc tổ 9, phường T, thành phố Điện Biên Phủ. D phát hiện thấy bà Đoàn Thị Tr đang điều khiển xe đạp đi cùng chiều, phía trước ở làn đường giành cho xe cơ giới, cách xe của D khoảng 06m. D quay mặt sang bên trái để nói chuyện với chị X, do D không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ xe nên phần đầu xe mô tô của D đã đâm vào phần đuôi bên trái xe đạp của bà Tr làm hai xe đẩy lên phía trước theo chiều đi và đổ ra đường, cả người ba bị văng xuống đường.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 16/TT ngày 12/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận về nguyên nhân chết của bà Đoàn Thị Tr là do: Chấn thương sọ não kín.

BL số: 74, 82-83 (Biên bản khám nghiệm tử thi, Kết luận giám địnhphápy về tử thi).

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y về tử thi và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được cho thấy lỗi vụ tai nạn giao thông trên là do Lò Văn D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát, không tuân thủ tốc độ xe chạy trên đường gây tai nạn đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; D tham không có giấy phép lái xe đã vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả rất ngiêm trọng làm chết một người, thiệt hại về tài sản là 300.000 đồng.

Bà Đoàn Thị Tr điều khiển xe đạp tham gia giao thông đi không đúng phần đường vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật giao thông đường bộ, hành vi của bà Tr không phải là nguyên nhân Tr tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông.

Trong quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biên Phủ đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44, kèm đăng ký xe và 01 xe đạp. Ngày 21/5/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lò Văn T xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44; anh T không có yêu cầu bồi thường gì và trả lại cho gia đình bà Đoàn Thị Tr chiếc xe đạp mini nhãn hiệu REPSOL, màu sơn bạc.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là anh Vương Quốc Việt yêu cầu bị cáo Lò Văn D bồi thường do tính mạng bà Đoàn Thị Tr bị xâm hại các khoản tiền cụ thể như sau: 300.000 đồng giá trị thiệt hại xe đạp; 339.100 đồng tiền viện phí; 13.600.000 đồng tiền chi phí ăn, uống phục vụ đám tang; 1.500.000 đồng tiền chi phí thông báo truyền hình; 27.815.000 đồng + 7.800.000 đồng tiền chi phí mai táng; 149.000.000 đồng tiền bồi thường tổn thất về tinh thần bằng 100 tháng lương cơ sở. Tổng số tiền là 200.354.100 đồng (Làm tròn số = 200.354.000 đồng).

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSTPĐBP ngày 10/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điên Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, người làm chứng tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo Lò Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ", do đó VKS giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Chấp nhận việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lò Văn T xe mô tô biển kiểm soát 27B1

- 204.44 và đăng ký xe; trả lại cho gia đình bị hại xe đạp mini nhãn hiệu REPSOL, màu sơn bạc (Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 21/5/2019 của cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biện Phủ).

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; khoản 2 Điều 586; 589; 591 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lò Văn D phải bồi thường cho gia đình người bị hại những khoản tiền cụ thể sau: 300.000 đồng giá trị thiệt hại xe đạp; 339.100 đồng tiền viện phí; 1.500.000 đồng tiền chi phí thông báo truyền hình; 27.815.000 đồng + 7.800.000 đồng chi phí mai táng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bằng 100 tháng lương cơ sở tương đương số tiền 149.000.000 đồng. Tổng số tiền là 186.754.100 x70% =130.727.870 đồng (Làm tròn số = 130.727.000 đồng).

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật; đại diện gia đình của bị hại phải chịu án phí phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại anh Vương Quốc Việt nhất trí với nội dung luận tội của đại diện VKS.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và các bản cung của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi, biên bản khám nghiệm các xe liên quan trong vụ tại nạn giao thông, lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vì vậy đủ cơ sơ kết luận: Bị cáo Lò Văn D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật gây tai nạn, hậu quả làm chết một người, thiệt hại về tài sản là 300.000 đồng đã phạm vào tội "Vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

. Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn làm thiệt hại đến tính mạng, tài sản của người khác gây hậu quả rất nghiêm trọng. Lò Văn D điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, không chú ý quan sát, không tuân thủ tốc độ xe chạy trên đường gây tai nạn đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm bà Đoàn Thị Tr tử vong, thiệt hại về tài sản là 300.000 đồng, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục bị cáo.

. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; người bị hại cũng có lỗi một phần do điều khiển xe đạp tham gia giao thông đi không đúng phần đường nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về vật chứng: Anh Lò Văn T là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44, khi cho D mượn xe, anh T không biết D không có giấy phép lái xe moto, xe máy theo quy định của pháp luật, cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biên Phủ đã trả lại anh Lò Văn T xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 204.44 và đăng ký xe; trả lại cho gia đình bị hại xe đạp mini nhãn hiệu REPSOL, màu sơn bạc (Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 21/5/2019 của cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biện Phủ).

. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bà Đoàn Thị Tr bị xâm hại tổng các khoản tiền là 200.354.100 đồng, HĐXX xét thấy: Vụ tai nạn giao thông đã xâm hại đến tính mạng bà Đoàn Thị Tr và thiệt hại về tài sản số tiền 300.000 đồng. Gia đình bị hại đã bỏ ra các khoản chi phí thực tế cho việc cứu chữa nạn nhân; chi phí thực tế cho việc mai táng phí. Các khoản chi này là có cơ sở hợp lý, cụ thể: 300.000 đồng giá trị thiệt hại xe đạp; 339.100 đồng tiền viện phí; 1.500.000 đồng tiền chi phí thông báo truyền hình; 27.815.000 đồng + 7.800.000 đồng chi phí mai táng và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bằng 100 tháng lương cơ sở tương đương số tiền 149.000.000 đồng. Tổng số tiền là 186.754.100 x70% =130.727.000 đồng là có cơ sở và phù hợp bởi lẽ: Trong vụ tai nạn giao thông dẫn đến người bị hại tử vong thì người bị hại cũng có lỗi một phần do điều khiển xe đạp tham gia giao thông đi không đúng phần đường. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; khoản 2 Điều 586; 589; 591 Bộ luật Dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại buộc bị cáo Lò Văn D phải bồi thường cho gia đình người bị hại tổng số tiền là 130.727.000 đồng (Làm tròn số).

Anh Lò Văn T không yêu cầu bị cáo Lò Văn D phải bồi thường thiệt hại nên HĐXX không đề cập giải quyết.

. Về hình phạt bổ sung; án phí và các vấn đề khác trong vụ án:

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Chiếc xe mô tô BKS 27B1- 204.44 do Lò Văn D điều khiển gây tai nạn giao thông là của anh Lò Văn T, khi cho D mượn xe, anh T không biết D không có giấy phép lái xe moto, xe máy theo quy định của pháp luật, vì vậy hành vi của Lò Văn T không cấu thành tội phạm.

- Án phí: Căn cứ theo Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Bị cáo phải chịu án phí HSST và tiền án phí DSST có giá ngạch đối với khoản tiền phải bồi thường cho gia đình người bị hại; đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại phải chịu án phí dân sự có giá ngạch phần yêu cầu bồi thường không được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; khoản 2 Điều 586;

589; 591 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt bị cáo Lò Văn D 03 năm 06 tháng tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 3 năm 2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lò Văn D phải bồi thường cho gia đình bà Đoàn Thị Tr số tiền 130.738.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu bẩy trăm ba mươi tám nghìn đồng).130.727.000

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của những người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Nếu không thỏa thuận thì được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Anh Lò Văn T không yêu cầu Tòa giải quyết về bồi thường dân sự.

3. Vật chứng: Chấp nhận biên bản trao trả tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp của cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biên Phủ cho anh Lò Văn T chiếc xe mô tô BKS 27B1- 204.44 và đăng ký xe; trả lại gia đình người bị hại chiếc xe đạp mini nhãn hiệu REPSOL, màu sơn bạc (Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 21/5/2019 của cơ quan CSĐT Công an thành phố Điện Biện Phủ).

5. Án phí: Buộc bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST và 6.536.000 đồng tiền án phí DSST có giá ngạch; người đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Vương Quốc Việt phải chịu án phí DSST có giá ngạch là 3.481.000 đồng.

Bị cáo; người đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ