- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Hiên và Lường Văn Tương tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? 1- Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn H và Lƣờng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 47/2019/HSST Ngày 31 tháng 5 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Thôn
2. Bà Thào Thị Mỹ Duyên
- Thư ký phiên toà:
Ông Trần Quốc Huy - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:
Ông Dƣơng Văn Nam - Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 5 năm 2019 và ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2019/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 41/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Quàng Văn H - Sinh năm 1962; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã N huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 2/10; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn N (đã chết), con bà Quàng Thị S; Bị cáo chƣa có vợ con
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Từ năm 2010 đến năm 2012 cai nghiện ma túy tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 15/01/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lường Văn T - Sinh năm 1972; Nơi ĐKHKT: Bản H, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Tạm trú: Bản N, xã Y, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đảng phái: Không; Con ông Lƣờng Văn B, con bà Cầm Thị N; Bị cáo không có vợ, hiện chung sống nhƣ vợ chồng với Lò Thị H, có 02 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1995.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thƣơng tích và 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Từ năm 2010 đến năm 2012 cai nghiện ma túy tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ 15/01/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi liên quan: Chị Lò Thị H - Sinh năm 1978
Địa chỉ: Bản Nà Mừ, xã Yên Hƣng, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 11 giờ 25 phút ngày 15/01/2019 Tổ công tác Đồn Công an Mƣờng Lầm phối hợp với Công an xã Mƣờng Lầm, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Lốm Hỏm, xã Mƣờng Lầm, huyện Sông Mã phát hiện hai đối tƣợng có biểu hiện nghi vấn đi chung trên 01 chiếc xe mô tô BKS 98L6-4565, Tổ công tác yêu cầu các đối tƣợng dừng xe để kiểm tra. Khi dừng xe ngƣời ngồi sau xe ném 01 gói lá khô xuống đất, qua kiểm tra các đối tƣợng khai nhận tên Lƣờng Văn T, trú tại bản N, xã Y, huyện Sông Mã và Quàng Văn H, trú tại bản N, xã N, huyện Sông Mã; khi Tổ công tác yêu cầu H nhặt gói lá lên thì H không thừa nhận gói lá của mình. Tổ công tác tiến hành kiểm tra gói lá thấy bên trong có 01 gói nilon màu hồng, đƣợc bọc ngoài bằng mảnh giấy báo, bên trong gói nilon chứa chất bột màu trắng ngà nghi là Heroine. Tổ công tác tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 gói lá khô, bên trong có gói nilon màu hồng đƣợc bọc bằng mảnh giấy báo, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà. Ngoài ra còn thu giữ trong túi quần của H 02 mảnh giấy báo có các dòng chữ khớp với các dòng chữ trên giấy dùng để bọc gói nilon chứa bột màu trắng ngà.
Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã phối hợp với VKSND huyện Sông Mã tiến hành khám nghiệm hiện trƣờng và tạm giữ của Lƣờng Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu DRAMA BKS 98L6-4565.
Sau khi khám nghiệm hiện trƣờng, Tổ công tác đƣa Quàng Văn H và Lƣờng Văn T về cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã để làm việc, tại đây H và T và đã thừa nhận toàn bộ hành vi cất giấu gói ma túy và ném xuống đƣờng khi thấy Tổ công tác nhằm mục đích phi tang, thu giữ của H số tiền 115.000đ.
Ngày 16/01/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lƣợng vật chứng, trích mẫu giám định, kết quả: Cân tịnh số chất bột màu trắng ngà trong gói nilon màu hồng thu giữ của H có khối lƣợng 0,57 gam, đã trích 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H1, vật chứng còn lại 0,47 gam ký hiệu H.
Tại bản kết luận giám định số 257 ngày 22/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luật: "Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lƣợng mẫu gửi giám định là 0,10gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ đƣợc là 0,57 gam; loại Heroine".
Ngày 18/02/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã trích mẫu giấy báo dùng để bọc gói nilon màu hồng, bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà và mẫu giấy báo thu trong túi quần của Quàng Văn H để giám định dấu vết khớp của tài liệu theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 517 ngày 01/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Các mảnh giấy mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 là đƣợc xé từ tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 ra".
Quá trình điều tra Quàng Văn H và Lƣờng Văn T khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 15/01/2019, H đi bộ từ nhà lên bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến chợ bản Pàn, xã Nậm Ty, H gặp T đang điều khiển xe mô tô đi ngang qua, H liền vẫy xe và rủ T cùng đi mua ma túy để sử dụng, H sẽ mua 20.000đ tiền xăng đổ vào xe, T đồng ý. Khi cả hai điều khiển xe đi đến giữa bản Nà Sèo, Hbảo T dừng xe, ngồi đợi còn H một mình đi bộ vào nhà một ngƣời đàn ông dân tộc Mông tên là K, hỏi mua đƣợc của K một gói Heroine với giá 320.000đ. Sau khi mua đƣợc Heroine, H lấy một mảnh giấy báo trong túi quần xe ra 04 mảnh và dùng 02 mảnh bọc ngoài gói nilon chứa Heroine, 02 mảnh giấy còn lại H cất giấu vào trong túi quần bên phải rồi đi bộ ra chỗ T ngồi đợi nói "đã mua đƣợc hàng rồi", sau đó cầm gói Heroine ở trong lòng bàn tay trái, ngồi sau xe mô tô để T điều khiển xe mô tô đi về. Trên đƣờng về H vặt 01 chiếc lá khô bọc ngoài gói Heroine, khi cả hai về đến khu vực bản Lốm Hỏm, xã Mƣờng Lầm, huyện Sông Mã thì gặp Tổ công tác Đồn Công an Mƣờng Lầm phối hợp với Công an xã Mƣờng Lầm làm nhiệm vụ, H ngồi sau xe đã ném gói ma túy xuống đất thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKSSM ngày 25 tháng 4 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trƣớc Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Quàng Văn H và Lƣờng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Quàng Văn H từ 20 - 24 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 BLHS xử phạt Lƣờng Văn T từ 20 - 24 tháng tù ; Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy số ma túy và vật chứng liên quan; trả lại cho chị Lò Thị H chiếc xe mô tô. Buộc bị cáo Lƣơng Văn T chịu án phí hình sự; Miễn nộp khoản tiền án phí cho Quàng Văn H.
Tại phiên tòa khi đƣợc nói lời sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm pháp luật, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của các bị cáo đƣợc chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản sự việc lập vào hồi 11h30’ngày 15/01/2019, về việc Tổ công tác Công an Đồn Mƣờng Lầm và Công an xã Mƣờng Lầm khi kiểm tra Quàng Văn H và Lƣờng Văn T, thấy Quàng Văn H thả một gói lá xuống đất qua kiểm tra bên trong có gói nilon có chứa chất bột màu trắng, nhƣng Quàng Văn H không thừa nhận.
- Biên bản khám nghiệm hiện trƣờng lập vào hồi 15h30’ ngày 15/01/2019, khám nghiệm hiện trƣờng nơi xảy ra sự việc.
- Vật chứng bị thu giữ gồm 01 gói nilon màu hồng, đƣợc bọc ngoài bằng mảnh giấy báo, bên trong gói nilon chứa chất bột màu trắng ngà nghi là Heroine; Kết luận giám định số 257 ngày 22/01/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luật: "Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy; loại Heroine; tổng khối lƣợng mẫu gửi giám định là 0,10gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ đƣợc là 0,57 gam; loại Heroine".
- Kết luận giám định số 517 ngày 01/3/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Các mảnh giấy mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 là đƣợc xé từ tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 ra".
- Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện tội phạm.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 15/01/2019 tại chợ bản Pàn, xã Nậm Ty, sau khi gặp nhau Quàng Văn H đã rủ Lƣờng Văn T đi lên bản Nà Sèo, xã Nậm Ty, huyện Sông Mã; khi đến bản Nà Sèo H bảo T ngồi đợi để H đi mua ma túy để sử dụng, khi đã mua đƣợc ma túy H đã nói cho T biết và rủ T quay về, khi trên đƣờng về thì bị phát hiện. Số ma túy bị thu giữ có khối lƣợng là 0,57 gam Heroine.
Hành vi tàng trữ 0,57 gam Heroine của Quàng Văn H và Lƣờng Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức đƣợc việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhƣng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hƣởng đến trật tự trị an ở địa phƣơng, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Quàng Văn H là ngƣời rủ rê, khởi sƣớng và trực tiếp bỏ tiền và mua ma túy; bị cáo Lƣờng Văn T là đồng phạm với vai trò là ngƣời giúp sức - Áp dụng Điều 58 BLHS khi quyết định hình phạt. Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, khối lƣợng ma túy các bị cáo tàng trữ, vai trò và nhân thân của các bị cáo để quyết định một mức án phù hợp với từng bị cáo nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục các bị cáo thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phƣơng.
Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã làm rõ gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại và các vật chứng liên quan, các vật chứng không có giá trị sử dụng cần cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô là phƣơng tiện thực hiện tội phạm, quá trình điều tra xác định đƣợc chiếc xe do chị Lò Thị H ( là ngƣời đang chung sống với Lƣờng Văn T ) bỏ tiền ra mua, tại phiên tòa chị Hỏa khai nhận khi Tƣơng mang xe đi thực hiện tội phạm chị không biết, do vậy cần trả lại cho chị H quản lý, sử dụng. Đối với số tiền 115.000đ thu giữ của bị cáo Quàng Văn H, do không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông tên là K ở bản Nà Sèo, xã Nậm Ty,huyện Sông Mã bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 15/01/2019, quá trình điều tra tại bản Nà Sèo, xã Nậm Ty không có ngƣời nào tên là K giống nhƣ H miêu tả nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo Lƣờng Văn T phải chịu án phí theo quy định. Bị cáo Quàng Văn H thuộc hộ nghèo nên đƣợc miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Các bị cáo Quàng Văn H và Lƣờng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 20 ( hai mƣơi ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 15/01/2019.
- Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn T 20 ( hai mƣơi ) tháng tù - Thời hạn thụ hình tính từ ngày 15/01/2019.
2- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 0,47g ( không phẩy bốn mƣơi bẩy ) gam Heroine.
+ 01 ( một ) mảnh ni lon màu hồng.
+ 01(một) túi nilon màu trắng.
+ 01(một) vỏ phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu
( các vật chứng trên đƣợc đựng trong một phong bì do Bƣu điện Việt Nam phát hành đƣợc niêm phong dán kín ).
+ 01 (một) sợi chỉ màu đen.
+ 01 (một) chiếc lá màu vàng.
( các vật chứng trên đƣợc đựng trong một phong bì do Bƣu điện Việt Nam phát hành đƣợc niêm phong dán kín ).
+ 04 (bốn ) mảnh giấy ký hiệu A1, A2, M1, M2.
( các vật chứng trên đƣợc đựng trong một phong bì do Bƣu điện Việt Nam phát hành đƣợc niêm phong dán kín ).
- Trả lại cho ngƣời có quyền lợi liên quan Lò Thị H 01 (một) chiếc xe mô tô, hiệu DRAMA, dán nhãn Dream II, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98L6 - 4565, số máy B00003, số khung 000003.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2019 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã ).
3- Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội:
- Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn H.
- Buộc bị cáo Lƣờng Văn T chịu 200.000đ ( hai trăm ngàn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngƣời có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 31/5/2019./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - VKSND huyện - Công an huyện; - Trại giam; - THA hình sự ; - CCTHA Dân sự; - Sở TP; -Ngƣời có qllq; - Bị cáo ; - Lƣu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Toàn |