- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN VĂN N - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 47/2019/HSST Ngµy: 29/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K
- Héi thÈm nh©n d©n: +. Bà: Trần Thị Minh H
+. Bà: Đoàn Thị Q
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị H – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn N – Kiểm sát viên VKSND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Ngày 29/05/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2019/HSST ngµy 08 th¸ng 05 n¨m 2019 đối với bị cáo: Trần Văn N, sinh ngày 23 tháng 11 năm 1989 Nơi cư trú: Xóm Bích Thị, xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12 Con ông: Trần Văn H (Đã chết) Con bà: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1969 Anh chị em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ 02 trong gia đình Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2019 cho đến nay, có mặt.
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 09/4/2019, tại khu vực đường quốc lộ 46 thuộc địa bàn xóm 09, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã bắt quả tăng Trần Văn N đang có hành vi tàng trữ Hêrôin. Trần Văn N khai nhận mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Trần Văn N khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ ngày 09/4/2019 với mục đích mua ma túy về sử dụng, Trần Văn N đã nhờ xe của người đi đường đến điểm chờ xe buýt Cầu Rộ thuộc xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau đó N bắt xe buýt lên Thị trấn Thanh Chương, khi đến cây xăng thị trấn Thanh Chương, Nam xuống xe buýt và gặp T là bạn nghiện. N nói với T “Mi có tiền không, tau có một trăm đây góp lại mua ma túy ta chơi” thì được T đồng ý. Sau đó T gọi cho một người đàn ông mà T nói là H, gọi điện xong T nói với N “Tau rủ thêm 01 người nữa, mỗi người một trăm, tất cả ba trăm, mi bắt xe lên ngôi nhà hoang gần đường vào bến cát thuộc xã Đà Sơn chờ T và H”. N đưa cho T số tiền 100.000 đồng để tình đi mua ma túy. T cầm tiền N đưa rồi đi xe máy trước, N bắt xe buýt đi lên điểm hẹn. Khi N xuống xe buýt và vào bến cát thuộc xã Đà Sơn thì gặp T đã đứng ở đó, T đưa cho Nam 01 gói ma túy được gói bằng giấy thiếc bạc màu trắng. N cầm gói ma túy do T đưa bỏ vào bao thuốc lá Thăng Long màu vàng cất vào vào túi quần đùi bên phải phía trước N đang mặc. T nói N chờ để T chở H đến để cùng sử dụng. Trong lúc N đang chờ T và H quay lại thì bị lực lượng công an huyện Đô Lương bắt quả tang và thu giữ trong túi quần phía trước bên phải 01 gói giấy thiếc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Công an huyện Đô Lương đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn N, thu giữ tang vật, niêm phong đưa về Công an huyện Đô Lương để điều tra làm rõ.
Ngày 09/4/2019, tại Công an huyện Đô Lương, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đô Lương đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định. Sau khi loại bỏ bao bì một gói niêm phong thu giữ của Trần Văn N số chất bột màu trắng có khối lượng 0,199 gam.
- 2 -
Tại bản kết luận giám định số 619/KL-PC09(MT) ngày 15 tháng 04 năm 2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn N gửi tới giám định là ma túy (Hêrôin) có khối lượng 0,199 gam. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản cáo trạng số 47/VKS-HS ngày 08/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn N từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Văn N
- Xử lý vật chứng:Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An kích thước 17x23 cm. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/05/2019.
Bị cáo Trần Văn N nhận tội và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phï hîp víi c¸c tµi liÖu, chøng cø kh¸c cã t¹i hå s¬ vô ¸n nªn ®· cã ®ñ c¬ së ®Ó kÕt luËn:
Vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 09/4/2019, tại khu vực đường quốc lộ 46 thuộc địa bàn xóm 09, xã Đà Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, cơ quan
- 3 -
cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã bắt quả tăng Trần Văn N đang có hành vi tàng trữ 0,199gam Hêrôin. Trần Văn N khai nhận mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng.
Hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy của bị cáo Trần Văn N đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Khối lượng ma túy (Hêrôin) bị cáo tàng trữ trái phép là 0,199gam (Không phẩy một chín chín gam) nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Cách thức thực hiện hành vi ngang nhiên, coi thường pháp luật. Vì vậy, đối với bị cáo phải xét xử nghiêm và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tiếp tục duy trì biện pháp tạm giam đối với bị cáo.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và có 01 tình tiết giảm nhẹ là trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo phần nào hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An kích thước 17x23 cm. Bên trong đựng vật chứng còn lại gồm: Vỏ giấy thiếc, vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Trần Văn N. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2019 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Theo lời khai của Trần Văn N, các đối tượng tên T và H là những người cùng góp tiền mua ma túy với N để cùng sử dụng nhưng N không biết họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đô Lương tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ và đề nghị xử lý sau là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 4 -
V× c¸c lÏ trªn,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyªn bè bÞ c¸o Trần Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 15 (Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 09/4/2019).
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trần Văn N.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư màu nâu của Công an huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An kích thước 17x23 cm. Bên trong đựng vật chứng còn lại gồm: Vỏ giấy thiếc, vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Trần Văn N. Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2019
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
5. Bị cáo có mặt cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n s¬ thÈm./. N¬i nhËn:
| - Bị cáo; - VKSND H. §« L ¬ng; - C¬ quan CS§T CA H. §« L ¬ng; - Chi côc THA d©n sù H. §« L ¬ng; - TAND tØnh NghÖ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - L u hå s¬. - 5 - | Tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ TrÇn V¨n K |