- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H phạm tội Chức mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2019/HS-ST Ngày 03-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Bà Vũ Thị Phương Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H, sinh ngày 28 tháng 01 năm 1966 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 183 đường N, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H (đã chết) và bà Trần Thị T; có chồng là Nguyễn Văn M (đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 27/01/2019, tạm giam ngày 29/01/2019; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 26/01/2019, tại nhà thuê trọ của Nguyễn Thị H ở số 183 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng bắt quả tang Bùi Thị Khuya, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn Lạng Côn, xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng đang bán dâm cho Đỗ Minh Tiến, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số 9/51/161 phố Cấm, phường Gia Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phòng số 01 tầng 02. Tại tầng 01 có Nguyễn Thị H, Bùi Thị Phí, sinh năm 1984; nơi cư trú: Xóm Trung Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình và Phạm Xuân Dần, sinh năm 1974; nơi cư trú: Số 90/34 đường Chợ Hàng, phường Đông Hải, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Vật chứng thu giữ của H 200.000 đồng; tại phòng số 01 thu của Khuya 200.000 đồng (Tiến trả tiền mua dâm cho Khuya) và 01 bao cao su đã qua sử dụng; tại phòng số 02 thu 01 bao cao su đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận: Giữa năm 2018, H thuê nhà số 183 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng của chị Nguyễn Thị Hoa; nơi cư trú: Số 27/215 đường Đà Nẵng, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để kinh doanh nước giải khát. Do H cảnh khó khăn nên H nảy sinh ý định chứa mại dâm để kiếm lời. Ngày 21 và 22/01/2019 có Bùi Thị Khuya và Bùi Thị Phí đến gặp H xin làm gái bán dâm tại nhà, H đồng ý và thỏa thuận với Khuya, Phí một lần bán dâm thu của khách 200.000 đồng, người bán dâm được hưởng 100.000 đồng còn H hưởng 100.000 đồng. Sau đó, ngày 23/01/2019, Khuya và Phí mỗi người bán dâm 01 lần cho những người đàn ông không quen biết; ngày 25/01/2019, Phí và Khuya mỗi người bán dâm 01 lần cho những người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ. H đã thu được 400.000 đồng của 02 ngày trên sau khi đã trả tiền cho Khuya và Phí.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/01/2019, Phạm Xuân Dần đến nhà H hỏi mua dâm, sau đó Đỗ Minh Tiến cũng đến hỏi mua dâm. H đồng ý và báo giá mỗi lần là 200.000 đồng, Tiến và Dần đồng ý. H bố trí để Khuya bán dâm cho Tiến tại phòng số 01 tầng 02, Phí bán dâm cho Dần tại phòng số 02 tầng 02. Sau đó, H khóa cửa nhà đi chợ. Khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, H về nhà thấy Dần và Phí đã mua bán dâm xong ngồi ở tầng 01, Dần lấy 200.000 đồng trả cho H tiền mua dâm thì bị Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng bắt quả tang trong khi Tiến và Khuya đang mua bán dâm tại phòng số 01 trên tầng 02.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSNQ ngày 06 tháng 6 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Thị H về tội Chứa mại dâm theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội Chứa mại dâm. Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền do phạm tội mà có; buộc bị cáo phải nộp số tiền 400.000 đồng do thu lời bất chính từ việc chứa mại dâm; tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
Điều tra viên Công an quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:
Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận: Tháng 01 năm 2019, Nguyễn Thị H đã sử dụng nhà thuê của mình tại số 183 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để chứa mại dâm kiếm lời, H đã 06 lần để Bùi Thị Khuya, Bùi Thị Phí bán dâm vào các ngày 23, 25, 26/01/2019, thu lời 600.000 đồng. Ngày 26/01/2019, khi H vừa nhận của Phạm Xuân Dần 200.000 đồng tiền mua dâm Phí và Khuya đang bán dâm cho Đỗ Minh Tiến thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.
Lời khai nhận của bị cáo H tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội Chứa mại dâm theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến đời sống văn hóa, đến đạo đức thuần phong mỹ tục và trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải xử bị cáo với mức án nghiêm khắc, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 vỏ bao cao su đã qua sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 400.000 đồng (trong đó thu giữ của bị cáo H 200.000 đồng và thu giữ của chị Bùi Thị Khuya 200.000 đồng). Đây là tiền thu của khách mua dâm nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 400.000 đồng do bị cáo thu lời bất chính từ việc chứa mại dâm vào các ngày 23 và ngày 25/01/2019, cần buộc bị cáo phải nộp lại sung công quỹ Nhà nước.
Trong vụ án này, Đỗ Minh Tiến, Phạm Xuân Dân, Bùi Thị Khuya, Bùi Thị Phí là những người mua, bán dâm, Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đối với chủ nhà chị Nguyễn Thị Hoa khi cho thuê nhà không biết Nguyễn Thị H sử dụng vào mục đích chứa mại dâm. Những người mua dâm vào các ngày 23, 25/01/2019 chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.
- Về án phí:
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Chứa mại dâm. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27 tháng 01 năm 2019.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 02 vỏ bao cao su đã qua sử dụng; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H và của chị Bùi Thị Khuya. (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an quận Ngô Quyền với Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền ngày 07/6/2019).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng do thu lời bất chính từ việc chứa mại dâm.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Ngô Quyền; - Công an quận Ngô Quyền; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng; - PV27 Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THA hình sự Công an quận Ngô Quyền; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |