- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Lê Tuấn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Lê Tuấn V phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2019/HS-ST Ngày: 23-4-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Cao Đình Nhân
2/ Bà Đinh Thị Phúc
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 28/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Mai Lê Tuấn V, sinh năm 1993; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi cư trú: Số 218, thôn Đà Lâm, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Văn Sơn (đã chết), con bà: Lê Thị Nguyệt N; Gia đình có 02 anh em, lớn nhất bị cáo, nhỏ sinh năm 1996; vợ: Then Thị Mỹ Ngọc (đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Bà Lê Thị Nguyệt N, sinh năm 1966
Trú tại: 218 Đà Lâm, Đ, Đ, Lâm Đồng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 02/12/2018 lực lượng Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà bà Lê Thị Nguyệt N, tại thôn Đà Lâm, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát hiện trong phòng ngủ của Mai Lê Tuấn V (con trai bà Lê Thị Nguyệt N) có một chiếc hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm, bên trong có chứa 13 gói nylon chứa tỉnh thể màu trắng nghi là ma túy, nên Công an Huyện Đ lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và niêm phong 02 (hai) gói nghi là ma túy gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Mai Lê Tuấn V khai nhận: vào ngày 02/12/2019 bị cáo mua 01 gói ma túy với giá 1.500.000đ của một người không rõ nhân thân lai lịch tại đường đôi Phạm Văn Đồng, thị trấn L, huyện Đ, sau đó V mang số ma túy về phân ra 13 gói nhỏ để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ.
Số tang vật nghi ma túy thu giữ trong vụ án gửi giám định, tại Kết luận giám định số 172/GĐ-PC09 ngày 05/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: M u tinh thể đựng trong 13 gói ny on đư c niêm phong gửi giám đ nh à ma t y, có kh i ư ng 1,1685gam, oại Methamphetamine. Methamphetamine à ch t ma tuy n m trong Danh m c II, STT: 323, Ngh đ nh 3/2018 NĐ-C ngày 15/5/2018 của Ch nh phủ.
Vật chứng của vụ án:
- 01 phong bì niêm phong số 172/2019 “Hoàn mẫu, m=0,6621g” có đóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.
- 01 phong bì niêm phong số 172/2019 “Bao gói” có đóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng.
- 01 cân tiểu ly điện tử màu xanh dương, vỏ nhựa, hình dạng bao thuốc lá, trên thân có ghi chữ MILDSEVEN.
- 01 hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm.
- 01 chứng minh nhân dân số 250958440 mang tên Mai Lê Tuấn V.
Hiện các vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển giao cho Cơ quan thi hành án dân sự huyện Đ chờ xử lý.
Quá trình điều tra bị cáo Mai Lê Tuấn V đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 01 tháng 3 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Mai Lê Tuấn V về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y” quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Mai Lê Tuấn V. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015 để xét xử bị cáo từ 01 đến 02 năm tù. Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong phong bì niêm phong số 172/2019 “Hoàn mẫu, m=0,6621g”, phong bì niêm phong số 172/2019 “Bao gói” có đóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; cân tiểu ly điện tử màu xanh dương, vỏ nhựa, hình dạng bao thuốc lá, trên thân có ghi chữ MILDSEVEN và hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm. Hoàn trả cho bị cáo chứng minh nhân dân số 250958440 mang tên Mai Lê Tuấn V.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Lê Tuấn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 02/12/2018 bị cáo có mua 01 gói ma túy với giá 1.500.000đ của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực đường đôi Phạm Văn Đồng, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, sau đó bị cáo phân ra làm 13 gói nhỏ để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày khi bị cáo đang nằm ngủ trong phòng thì bị lực lượng Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo và phát hiện số ma túy bị cáo để trong một chiếc hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm, nên Công an huyện Đ lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và niêm phong hai gói nghi là ma túy gửi giám định. Tại kết luận giám định số 172/GĐ-PC09 ngày 05/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận số ma túy trên có khối lượng là 1,1685gam, loại Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Mai Lê Tuấn V: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, không những thể hiện sự coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, ổn định tại địa phương mà còn xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.
Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Về tang vật của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng gồm: Số ma túy đựng trong phong bì niêm phong số 172/2019 “Hoàn mẫu, m=0,6621g”, phong bì niêm phong số 172/2019 “Bao gói” có đóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; cân tiểu ly điện tử màu xanh dương, vỏ nhựa, hình dạng bao thuốc lá, trên thân có ghi chữ MILDSEVEN và hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm.
Hoàn trả cho bị cáo chứng minh nhân dân số 250958440 mang tên Mai Lê Tuấn V là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Mai Lê Tuấn V phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt: bị cáo Mai Lê Tuấn V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam/tạm giữ ngày 03/12/2018.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong phong bì niêm phong số 172/2019 “Hoàn mẫu, m=0,6621g”, phong bì niêm phong số 172/2019 “Bao gói” có đóng dấu của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng; cân tiểu ly điện tử màu xanh dương, vỏ nhựa, hình dạng bao thuốc lá, trên thân có ghi chữ MILDSEVEN và hộp gỗ màu đen kích thước 10x15cm. Hoàn trả cho bị cáo chứng minh nhân dân số 250958440 mang tên Mai Lê Tuấn V theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Mai Lê Tuấn V phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - THA huyện Đ; - Bị cáo; - Bộ phận THA phạt tù; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 7 năm 2018; Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Long Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Ngọc Anh 2. Bà Nguyễn Thị Ngọc ngày 16 tháng 8 năm 2018 đối với: Bị cáo Khum Gia Lượng, sinh năm 1990 Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. 1. Về tội danh: t y”. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: (Điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự): Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: Hội thẩm, xử phạt: ngày 26/4/2018 4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật Hình sự. đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 phong bì niêm phong số 761/2018 “Hoàn mẫu” có đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 quần Jean xanh đã cũ và 01 chai nước bên trong có gắn ống thủy tinh. 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Khum Gia Lượng phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3. quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm Kết quả biểu quyết: 3/3. Biên bản kết thúc vào lúc 15 giờ 25 phút cùng ngày./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thanh Long THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Tâm CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Đ, ngày 10 tháng 10 năm 2018 Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2018/TLST-HS Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên toà, kết quả HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Tuyên bố bị cáo Khum Gia Lượng phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma Các vị Hội thẩm nhân dân đề nghị và Chủ tọa thống nhất đề nghị của các - Bị cáo Khum Gia Lượng 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 761/2018 “Bao gói” có 5. Về án phí: Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 6. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Long |