vanban.org

Bản án 47/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 17/07/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Phạt: Bị cáo Phạm Văn V – 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2019/HS-PT
Ngày: 17/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Trúc và ông Nguyễn Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát vien Trung cấp.

Ngày 17 tháng 07 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 44/2019/TLPT-HS ngày 21 tháng 06 năm 2019 đối với bị cáo Phạm Văn V do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn V đối với Bản án sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 17 tháng 04 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn V, sinh năm 1976; tại tỉnh Bắc Ninh. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V1 (chết) và bà Trần Thị Th, sinh năm 1941; có vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1976 và 02 con, lớn sinh năm 1996 và nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/8/2018, Phạm Văn V điều khiển xe ô tô khách biển số 99B – xxxx lưu hành theo hướng Nam – Bắc, đến Km 1312+500 Quốc lộ 1A thuộc thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, lúc này trời mưa, mặt đường trơn trượt nhưng Phạm Văn Vê thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ cần thiết dẫn đến xe ô tô khách biển số 99B – xxxx do V điều khiển chạy ra lề đường, tung vào ông Võ Văn T, xe ô tô tiếp tục chạy xuống lề đường tung vào sân nhà có mái che của bà Nguyễn Thị Nh và tiệm uốn tóc của chị Huỳnh Thị Thúy D gây tai nạn. Hậu quả, ông Võ Văn T chết do chấn thương sọ não, nhà bà Nguyễn Thị Nh bị thiệt hại 35.085.500 đồng và tiệm uống tóc của chị Huỳnh Thị Thúy D bị thiệt hại 2.134.176 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HSST ngày 17/04/2019 của Tòa án nhân dân huyện T đã tuyên Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt Phạm Văn V - 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 04/5/2019, bị cáo Phạm Văn V kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Phạm Văn V điều khiển xe ô tô chở khách, tham gia giao thông trong điều kiện trời mưa, mặt đường trơn trượt, khi phát hiện có xe mô tô đang lưu hành phía trước cùng chiều, mặc dù đã đạp phanh, nhưng không làm chủ tốc độ dẫn đến xe ô tô đi không đúng làn đường gây tai nạn, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, làm chết 01 người, tài sản bị thiệt hại 37.219.676 đồng, đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luâ ̣t giao thông đườ ng bô ̣, nên cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi của bị cáo Phạm Văn V đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của các bị hại, nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để phạt bị cáo 01 năm tù, đồng thời không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.

Bị cáo Phạm Văn V kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt: Bị cáo Phạm Văn V – 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ