vanban.org

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H đối với bị đơn bà Võ Thị Ngọc U về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trờ. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc H- Võ Thị Ngọc U"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H đối với bị đơn bà Võ Thị Ngọc U về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/ 2019/HNGĐ-ST
Ngày 18 tháng 11 năm 2019
"V/v: tranh chấp thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Phi và bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân qu n Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 467/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2019, về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 467/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1982. Trú tại: 222A đường N, phường T, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Võ Thị Ngọc U, sinh năm: 1989. Trú tại: 189 đường T, phường X, quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi ki n ngày 18 tháng 8 năm 2019, t i phiên hòa giải và t i phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H trình bày:

Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa số 190/2015/QĐST-HNGĐ ngày 15.9.2015 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng, bà Võ Thị Ngọc Uđược trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thiện N, sinh ngày: 22.12.2013 đến tuổi trưởng thành, tôi không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Nay, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết xin được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thiện N, sinh ngày: 22.12.2013 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà U phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Nguyên nhân là do bà U hiện nay ngăn cấm tôi không được thăm nom con, và cuộc sống của bé không đảm bảo khi sinh hoạt chung với mẹ và ông bà ngoại. Ngoài ra thu nhập của bà U không đảm bảo việc nuôi con.

Bà U còn thường xuyên cho cháu xem tivi, ipap và không cho cháu học các kĩ năng mềm để phát triển kĩ năng trong cuộc sống, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con sau ly hôn, giao con chung cho tôi nuôi để đảm bảo cuộc sống cho cháu.

Theo bản tự khai ngày 03 tháng 10 năm 2019, t i phiên hòa giải và t i phiên tòa hôm nay nguyên đơn bị đơn bà Võ Thị Ngọc U trình bày :

Tôi đã nghe trình bày của ông Huy, tôi không đồng ý với yêu cầu xin thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn.

Hiện nay tôi vẫn đảm bảo cuộc sống của cháu Nguyễn Thiện N, cháu học tại trường tốt (trường quốc tế sky line), tôi vẫn cho cháu học các môn phụ để cháu phát triển kĩ năng. Ông H vẫn chu cấp cho con thường xuyên nhưng hiện nay ông H đang kinh doanh quán Karaoke nên không thuận tiện cho việc nuôi dạy cháu, hơn nữa việc thay đổi tâm lý bé sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cháu.

Tôi không hề ngăn cản việc ông H thăm nom cháu, mà còn tạo điều kiện cho cháu được gần gũi ba, nhưng chính cháu lại không muốn ở bên ba.

T i phiên tòa hôm nay, đ i di n Vi n ki m sát nhân dân qu n Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát bi u ý kiến như sau:

+ Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn , bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các 81, 82,83, 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của ông Nguyễn Ngọc H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” là đúng với quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa số 190/2015/QĐST-HNGĐ ngày 15.9.2015 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng, bà Võ Thị Ngọc U được trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thiện N, sinh ngày: 22.12.2013 đến tuổi trưởng thành, ông Nguyễn Ngọc H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu thay đổi người nuôi con vì cho rằng bà U ngăn cấm ông không được thăm nom con, bà U còn thường xuyên cho cháu xem tivi, ipap và không cho cháu học các kĩ năng mềm để phát triển kĩ năng trong cuộc sống và bà U không đảm bảo tốt cho con do công việc không ổn định. Ngoài ra cháu N còn sinh hoạt chung với mẹ và ông bà ngoại nên ông muốn thay đổi người nuôi con để đảm bảo sự phát triển cho con chung.

Qua xác minh thực tế, hiện nay bà U có công việc và thu nhập ổn định. Theo xác minh tại trường Sky line là nơi bé N đang học bán trú thì bé phát triển bình thường, bà U cũng cho cháu học thêm những kỉ năng mềm như bơi lội, âm nhạc. Bà U cũng xác nhận không ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc con chung của ông H Do đó, ông H không đưa ra được chứng cứ để chứng minh về việc bà U chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N không tốt, nên HĐXX không chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con sau ly hôn của ông H.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Các khoản 3 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 81, 82,83, 84 và Điều 85 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H đối với bị đơn bà Võ Thị Ngọc U về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trờ. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0005159 ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Ông H đã nộp đủ tiền án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/11/2019).

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ