vanban.org

Bản án 113/2017/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 26/10/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao cho chị Đinh Thị H nuôi con chung Đinh Khắc Khánh D, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2007 cho đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giao nhận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp thay đổi nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Giao cho chị Đinh Thị H nuôi con chung Đinh Khắc Khánh D, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2007 cho đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 113/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 26-10-2017
V/v tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đức Mạnh

Ông Nguyễn Thành Biên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 26 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:1796/2017/QĐXX-ST ngày 16 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đinh Khắc Q, nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Đinh Thị H, nơi cư trú: Đăng ký HKTT: Thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. hiện đang cư trú tại Hàn Quốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin thay đổi nuôi con, nguyên đơn anh Đinh Khắc Q trình bày: Theo Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 406 ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử cho anh Đinh Khắc Q và chị Đinh Thị H được ly hôn, giao con chung Đinh Thị Trà M, sinh ngày 04-7-2003 cho chị H nuôi dưỡng, giao con chung Đinh Khắc Khánh D, sinh ngày 23-9-2007 cho anh Q nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh Q không có công ăn việc làm ổn định, nên không có điều kiện kinh tế cũng như không có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cháu D nên cháu D vẫn được chị H nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Đinh Khắc Khánh D anh Q đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng thay đổi việc nuôi con để chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Khắc Khánh D. Việc cấp dưỡng nuôi con anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin thay đổi nuôi con, bản tự khai bị đơn là chi ̣ Đinh Thị H trình bày: Sau khi ly hôn cháu Đinh Khắc Khánh D vẫn do chị H nuôi dưỡng. Tháng 6 năm 2017 chị H sang Hàn Quốc sinh sống, đến tháng 8 năm 2017 chị H đã đón cháu D sang ở cùng. Để đảm bảo điều kiện học tập, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu D chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi cháu Đinh Khắc Khánh D, chị không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Do chị H ở nước ngoài nên theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa anh Q có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm xin thay đổi việc nuôi con, chị H vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, chị H hiện đang cư trú ở nước ngoài nên theo khoản 3 Điều 28, khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

.Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Đinh Thị H là bị đơn hiện sinh sống tại Hàn Quốc vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và ủy quyền cho anh Đinh Văn Tài là em ruột chị H nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H. Tài liệu của chị H đều được Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc chứng thực. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

. Xét yêu cầu thay đổi nuôi con: Khi ly hôn, Tòa án đã xử giao con chung Đinh Thị Trà M, sinh ngày 04-7-2003 cho chị H nuôi dưỡng, giao con chung Đinh Khắc Khánh D, sinh ngày 23-9-2007 cho anh Q nuôi dưỡng. Tuy nhiên sau khi ly hôn cháu D vẫn do chị H nuôi dưỡng. Tháng 6 năm 2017 chị H sang Hàn Quốc sinh sống, cháu D do bà ngoại chăm sóc, đến tháng 8 năm 2017 chị H đã đón cháu D sang Hàn Quốc đoàn tụ mẹ con. Như vậy mặc dù được Tòa án giao nuôi con nhưng kể từ sau khi ly hôn do điều kiện công việc, thu nhập của anh Q không ổn định nên anh Q chưa thực hiện việc nuôi con, hơn nữa hiện nay cháu D đã đoàn tụ với mẹ tại Hàn Quốc. Như vậy, để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc con của chị H ở nước ngoài cũng như để đảm bảo quyền lợi và lợi ích của cháu D thì việc anh Q và chị H thỏa thuận thay đổi việc nuôi con để chị H trực tiếp nuôi cháu D là hoàn toàn chính đáng.

Xét thỏa thuận thay đổi nuôi con của anh Q, chị H không trái quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu D, do vậy áp dụng Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận việc thay đổi nuôi con của anh Q và chị H.

. Việc cấp dưỡng nuôi con: Do hai bên tự thỏa thuâ ̣n , không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Q tự nguyện chịu cả án phí dân sự sơ thẩm. Xét sự tự nguyện của anh Q không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện của anh Q.

. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Anh Q, chị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 147, khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 474, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 8 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Giao cho chị Đinh Thị H nuôi con chung Đinh Khắc Khánh D, sinh ngày 23 tháng 9 năm 2007 cho đến khi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự giao nhận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đinh Khắc Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0003952 ngày 05 tháng 10 năm 2017 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Q đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

- Anh Đinh Khắc Q và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Chị Đinh Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ