- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đồng Phúc Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 254 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2019/DS-PT Ngày 02-4-2019 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Kim Anh
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Kim Thoa – Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng.
- Đ i di n Vi n i m t nh n d n t nh nh Dư ng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung - Ki m sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2018/TLPT-DS ngày 17/12/2018 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 69/2019/QĐ-PT ngày 21/02/2019 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A, khu phố B, phƣờng P1, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Vƣơng Băng T, sinh năm 1982; địa chỉ: Số C, đƣờng N, tổ 3, khu phố D, phƣờng P2, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (văn bản ủy quyền ngày 16/01/2018).
- Bị đơn: Ông Đồng Phúc Đ, sinh năm 1960; địa chỉ: Số N, tổ M, khu phố B, phƣờng P1, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nông Thị R; địa chỉ: Số N, tổ M, khu phố B, phƣờng P1, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
2. Bà Vƣơng Thị Kim A, sinh năm 1960; địa chỉ: Số A, khu phố B, phƣờng P1, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
.
Người đại diện hợp pháp của bà A: Bà Nguyễn Vƣơng Băng T, sinh năm 1982; địa chỉ: địa chỉ: Số C, đƣờng N, tổ 3, khu phố D, phƣờng P2, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (văn bản ủy quyền ngày 01/3/2019).
3. Cơ quan U thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: Số K, đƣờng Q, phƣờng P3, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị L; chức vụ: Trƣởng phòng T1 thành phố T (văn bản ủy quyền số I/QĐ-UBND ngày 28/8/2018).
4. Sở T2 tỉnh Bình Dƣơng; địa chỉ: Tầng H, tháp L, Tòa nhà T3, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Người Đ diện hợp pháp: Ông Trần Minh D; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh V thành phố T (văn bản ủy quyền số 0/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 14/9/2018).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đồng Phúc Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 10/5/1995, vợ chồng ông Đ, bà R ký “giấy sang nhƣợng đất” với nội dung chuy n nhƣợng cho ông K phần đất chiều ngang 2m x chiều dài 12,5m = 25m2; giá chuy n nhƣợng 1.250.000 đồng; tứ cận: Phía Bắc giáp đƣờng nhựa 4,2m; phía Nam giáp đất ông K đang quản lý sử dụng; phía Tây giáp đất ông Nguyễn Hồng L; phía Đông giáp đất bà R.
Ông K nhận chuy n nhƣợng đất đ làm đƣờng đi riêng (từ đƣờng nhựa vào đất ông K); sau khi ký “giấy sang nhƣợng”, ông K giao đủ tiền, ông Đ và bà R giao đất cho ông K sử dụng là đƣờng đi từ đó đến nay.
Vào thời đi m đó, ông K chƣa hoàn thành thủ tục chuy n nhƣợng vì ông Đ nói đã làm mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2016, ông K biết ông Đ đã làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng không làm thủ tục tách phần diện tích đã chuy n nhƣợng cho ông K nên diện tích đất chuy n nhƣợng 25m2 hiện nay vẫn thuộc thửa số S, tờ bản đồ số V, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Ô, số vào sổ: Q do Sở T4 tỉnh Bình Dƣơng cấp cho ông Đ ngày 19/5/2016.
Nay, đo thực tế diện tích đất là 27,7m2, ông K quản lý và dùng làm lối đi riêng của gia đình ông K; ông K yêu cầu Tòa án công nhận cho ông K đƣợc quyền quản lý sử dụng diện tích đất là 27,7m2.
Bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày:
Ông Đ và ông K có mối quan hệ hàng xóm láng giềng từ năm 1990 đến nay. Năm 1993, ông K có đề nghị ông Đ chuy n nhƣợng một phần đất có chiều ngang 02m và chiều dài 12,5m cho ông K dùng làm lối đi nhƣng ông Đ không đồng ý vì nhà ông K có lối đi riêng. Vì n tình làng nghĩa xóm, ông Đ không xây dựng hàng rào mà vẫn đ cho gia đình ông K đi lại. Đến năm 1995, lợi dụng việc ông Đ đi công tác ở huyện L, ông K đã đề nghị bà R chuy n nhƣợng đất, bà R ký tên trên “giấy sang nhƣợng đất” lập ngày 10/5/1995 và biên bản ki m tra địa chính và khảo sát hiện trạng sử dụng đất ngày 12/5/1995; “giấy sang nhƣợng đất” đƣợc cơ quan U xã (nay là phƣờng) P xác nhận ngày 11/5/1995, bà R ký tên thay cho ông Đ trong giấy sang nhƣợng đất.
Quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản riêng của ông Đ nên việc bà R tự ý giả chữ ký của ông Đ đ ký trên các giấy tờ sang nhƣợng là trái quy định pháp luật. Hơn nữa, ông Đ không nhận bất cứ khoản tiền nào từ việc chuy n nhƣợng đất từ ông K, cũng nhƣ không có việc bàn giao đất cho gia đình ông K quản lý sử dụng. Ông Đ đƣợc Sở T4 tỉnh Bình Dƣơng công nhận quyền sử dụng đất diện tích 356m2 thuộc thửa số 509, tờ bản đồ số 37-1, tại phƣờng P1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ờ và tài sản khác gắn liền với đất số Ô, số vào sổ: Q cấp ngày 19/5/2016.
Ông Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nông Thị R trình bày:
Bà R thống nhất với lời trình bày của ông Đ, bà R xác định chữ ký và chữ viết họ tên “Đồng Phúc Đ” trong “giấy sang nhƣợng đất” ngày 04/7/1995 và “giấy sang nhƣợng đất” ngày 10/5/1995 đƣợc cơ quan U phƣờng P2 xác nhận ngày 11/5/1995 đều do bà R ký và viết tên ông Đ. Ông Đ hoàn toàn không biết gì về việc chuy n nhƣợng phần đất trên. Do ông K nhận chuy n nhƣợng đất của gia đình bà R nhƣng không có sự đồng ý của ông Đ nên bà R không đồng ý trƣớc toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vương Thị Kim A do bà Nguyễn Vương Băng T đại diện trình bày:
Bà A là vợ ông K; khoảng năm 1995, bà A và ông K có nhận chuy n nhƣợng của ông Đ diện tích đất 25m2 (ngang 02m; dài 12,5m) đ làm lối đi vào đất ông K với giá 1.250.000 đồng. Số tiền này, bà A và ông K đã giao đủ cho ông Đ và bà R, chính ông Đ và bà R là ngƣời nhận tiền nhƣng do là hàng xóm với nhau nên hai bên không lập biên bản giao nhận tiền. Sau khi hai bên thống nhất và nhờ chính quyền địa phƣơng khảo sát đ sang tên phần đất đã nhận chuy n nhƣợng cho ông K thì bà R, ông Đ nói rằng hiện đã bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chƣa làm thủ tục sang tên đƣợc; nghĩ là hàng xóm với nhau và phần đất nhận chuy n nhƣợng cũng đã đƣợc rào lại trong khuôn viên đất của ông K nên cũng không tiếp tục hỏi đ làm thủ tục tách sổ. Đến năm 2016, ông K và bà A biết phần diện tích đất mà ông Đ, bà R chuy n nhƣợng cho ông K, bà A đã đƣợc cấp vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ nên có yêu cầu ông Đ làm thủ tục sang tên nhƣng ông Đ không thực hiện.
Bà A thống nhất với ý kiến của ông K là buộc ông Đ phải tiếp tục thực hiện thủ tục chuy n nhƣợng quyền sử dụng đất theo diện tích đo đạc thực tế là 27,7m2 đ ông K dùng làm lối đi vào nhà.
Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K đối với bị đơn ông Đồng Phúc Đ về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Công nhận phần đất có diện tích 27,7m2 thuộc một phần thửa đất số 509, tờ bản đồ số 37-1, tại phƣờng P1, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (ký hiệu A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo) thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Nguyễn Văn K.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn K về việc bồi hoàn cho ông Đồng Phúc Đ giá trị diện tích đất chênh lệch 2,7m2 tƣơng đƣơng với số tiền là 10.800.000 đồng.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí, trách nhiệm chậm thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/9/2018, bị đơn ông Đồng Phúc Đ kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Đ trình bày yêu cầu kháng cáo là ông K phải trả lại diện tích đất dƣ ra so với diện tích chuy n nhƣợng năm 1995 là 2,7m2; nguyên đơn ông K không chấp nhận yêu cầu của ông Đ; hai bên đƣơng sự không thỏa thuận đƣợc với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng phát bi u ý kiến:
Về tố tụng: Những ngƣời tham gia tố tụng và tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Toà án nhân dân thành phố T đã tiến hành thụ lý, thủ tục hoà giải, đƣa vụ án ra xét xử không đúng quy định của pháp luật. Tại sơ đồ đo vẽ (bút lục 135) trong hồ sơ vụ án th hiện cạnh hƣớng bắc phần đất tranh chấp giáp với đất của bà Đinh Thị Thúy H. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu mở lối đi ra đƣờng công cộng. Tuy nhiên, nếu mở lối đi diện tích 27,7m2 cho nguyên đơn thì thực tế phần lối đi này vẫn giáp bất động sản khác, không giáp với đƣờng đi công cộng. Tòa án cấp sơ thẩm không làm việc với bà H đ xác định diện tích đất liên quan, không đƣa bà H tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết không triệt đ mục đích tranh chấp giữa các bên. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố T xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn ông K khởi kiện bị đơn ông Đ, yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 25m2 (đo đạc thực tế là 27,7m2) thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông K; vì vợ chồng ông Đ, bà R đã chuy n nhƣợng cho ông K theo giấy sang nhƣợng đất lập ngày 10/5/1995, có xác nhận của cơ quan U phƣờng P2 ngày 11/5/1995. Bị đơn ông Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K vì ông Đ không có ký vào giấy sang nhƣợng ngày 10/5/1995; không nhận đƣợc bất cứ số tiền chuy n nhƣợng nào từ ông K. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất là chƣa chính xác; quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết là “tranh chấp hợp đồng chuy n nhƣợng quyền sử dụng đất”.
Về nội dung: Giấy sang nhƣợng đất lập ngày 10/5/1995 có xác nhận của cơ quan U phƣờng P2 ngày 11/5/1995 và giấy sang nhƣợng đất ngày 04/7/1995 (do vợ ông Đ là bà Nông Thị R viết) đều có cùng nội dung: Ông Đ có đ lại cho ông K diện tích đất đ làm đƣờng đi chiều ngang 02m; chiều dài 12,5m, diện tích 25m2; giá chuy n nhƣợng là 50.000 đồng/m2, tổng cộng 1.250.000 đồng; ông K ký tên bên ngƣời mua và ông Đ ký tên bên ngƣời sang nhƣợng.
Theo Kết luận giám định số X/GĐ –PCY ngày 18/4/2018 của Phòng K – Cơ quan C tỉnh Bình Dƣơng và lời Ki nhận của bà R thì ông Đ không ký tên trong “giấy sang nhƣợng đất” ngày 04/7/1995 và “giấy sang nhƣợng đất” ngày 10/5/1995 đƣợc cơ quan U phƣờng P2 xác nhận ngày 11/5/1995. Tuy nhiên, tại các biên bản hòa giải ngày 04/8/2017 của cơ quan U phƣờng P1 (bút lục số 11 đến 13) thì ông Đ thừa nhận vợ chồng ông Đ sang nhƣợng cho ông K 25m2 từ năm 1995; ông Đ yêu cầu hòa giải với điều kiện ông K giao lại cho ông Đ đất của ông K (giáp ranh phía sau nhà ông Đ) chiều rộng 0,5m, dài hết chiều dài đất ông K. Nhƣ vậy, ông Đ không ký tên chuy n nhƣợng đất cho ông K nhƣng biết rõ việc chuy n nhƣợng và không phản đối, vì nhà ông Đ giáp ranh diện tích đất chuy n nhƣợng, ông K sử dụng làm lối đi, làm trụ cổng rào bằng sắt, có khóa riêng từ năm 1995; đến năm 2017, hai bên mới phát sinh tranh chấp.
Các chứng cứ có trong hồ sơ và các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án lập ngày 27/02/2019 (bút lục số 261-262) th hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích thực tế 27,7m2, chiều ngang 2,5m2, dài đến đất của ông K (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 19/5/2016, diện tích 356m2); diện tích đất tranh chấp là lối đi riêng của gia đình ông K từ năm 1995 đến nay, phía ngoài cùng có cổng rào bằng sắt, có khóa; hai bên lối đi là vách tƣờng nhà (ranh giới) của ông Đ và bà Đồng Thị H (con ông Đ). Ông K nhận chuy n nhƣợng đất của ông Đ, bà R đ làm lối đi và thực tế đã sử dụng làm lối đi từ năm 1995 đến nay; Tòa án cấp sơ thẩm xử công nhận diện tích đất tranh chấp 27,7m2 cho ông K là có căn cứ. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: Q cấp cho ông Đ ngày 19/5/2016, thì thửa số S, tờ bản đồ số V, diện tích 356m2; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: Ƣ cấp cho ông K ngày 26/7/2016 thì thửa đất số P có diện tích 903,9m2; do đó, khi công nhận diện tích đất tranh chấp 27,7m2 cho ông K thì ông K và ông Đ đều có đủ điều kiện đ làm thủ tục tách thửa và nhập thửa theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ và bà R yêu cầu ông K trả lại diện tích dƣ ra 2,7m2 so với thỏa thuận là không phù hợp; bởi lẽ hai bên thỏa thuận diện tích 25m2, nhƣng thực tế ông K sử dụng từ năm 1995 với diện tích 27,7m2; hai bên ranh giới đất là vách tƣờng nhà của ông Đ và con ông Đ (bà Đồng Thị H), không th trả lại diện tích đất cho ông Đ đƣợc. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông K bồi thƣờng giá trị quyền sử dụng đất 2,7m2 (theo kết quả định giá) cho ông Đ là phù hợp với pháp luật.
Với những phân tích trên, yêu cầu kháng cáo của ông Đ là không có căn cứ nên không đƣợc chấp nhận; quan đi m của đại diện Viện Ki m sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng cho rằng tranh chấp đất giữa ông K và ông Đ có liên quan đến bà Đinh Thị Thúy H, nên cần triệu tập bà Hòa tham gia tố tụng. Tuy nhiên theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp phúc thẩm ngày 27/02/2019 và lời khai nhận của các đƣơng sự thì phần đất của bà Hòa chiều ngang còn lại rất hẹp (khoảng hơn 01m tính từ mép đƣờng nhựa vào đất tranh chấp mà ông K dùng làm lối đi), thực tế bà H không sử dụng cũng nhƣ không th sử dụng đƣợc; ông K, ông Đ và các hộ dân khác sử dụng đất của bà H làm vỉa hè (sau này nếu Nhà nƣớc mở rộng đƣờng hoặc làm vỉa hè mà phải thu hồi đất thì sẽ xem xét bồi thƣờng). Do đó, quan đi m của đại diện Viện Ki m sát về việc hủy bản án dân sự sơ thẩm là không cần thiết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án dân sự sơ thẩm nên ngƣời kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 148; khoản 2 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 254 Bộ luật Dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đồng Phúc Đ.
2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 92/2018/DS-ST ngày 26/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau:
Xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng chuy n nhƣợng quyền sử dụng đất”.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn K đối với bị đơn ông Đồng Phúc Đ về việc “tranh chấp hợp đồng chuy n nhƣợng quyền sử dụng đất”.
Công nhận phần đất có diện tích 27,7m2 thuộc một phần thửa đất số S, tờ bản đồ số V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: Q cấp cho ông Đồng Phúc Đ ngày 19/5/2016 (tại phƣờng P1, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng) thuộc quyền quản lý sử dụng của ông Nguyễn Văn K.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn K về việc bồi thƣờng cho ông Đồng Phúc Đ giá trị diện tích đất 2,7m2 với số tiền là 10.800.000 đồng (mƣời triệu, tám trăm nghìn đồng).
K từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong nếu ngƣời phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả thêm lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.
Kiến nghị cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: Q ngày 19/5/2016 cấp cho ông Đồng Phúc Đ đ cấp lại cho đúng theo bản án này.
Ông Nguyễn Văn K có trách nhiệm đăng ký nhập diện tích đất 27,7m2 đƣợc quản lý ở trên vào thửa đất số 514 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ: Ƣ cấp cho ông Nguyễn Văn K ngày 26/7/2016
2. Về chi phí tố tụng: Ông Đồng Phúc Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản số tiền là 5.191.520 đồng (năm triệu, một trăm chín mƣơi mốt nghìn, năm trăm hai mƣơi hai đồng). Ông Nguyễn Văn K đã nộp tạm ứng, ông Đồng Phúc Đ phải nộp số tiền là 5.191.520 đồng (năm triệu, một trăm chín mƣơi mốt nghìn, năm trăm chín mƣơi hai đồng) đ trả lại cho ông Nguyễn Văn K.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đồng Phúc Đ phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Ông Nguyễn Văn K phải chịu 540.000 đồng (năm trăm bốn mƣơi nghìn đồng), đƣợc khấu trừ vào số tiền 895.000 đồng (tám trăm chín mƣơi năm nghìn đồng) tạm ứng ông K đã nộp theo các Biên lai thu số 0001652 ngày 04/10/2017 và số Ô ngày 27/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T trả cho ông Nguyễn Văn K số tiền 355.000 đồng (ba trăm năm mƣơi năm nghìn đồng) còn thừa.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng trả lại cho ông Đồng Phúc Đ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số Ơ ngày 01/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
N i nhận:
| - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THADS TP. TDM; - TAND TP. TDM; - Các đƣơng sự (đ thi hành); - Tổ Hành chính Tƣ pháp; - Lƣu: Hồ sơ, Tòa D. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đào Minh Đa |