vanban.org

Bản án 47/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 25/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Ph 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/03/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Ph - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND TỈNH THÁI NGUYÊN
TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN
Bản án số: 47/2018/HSST
Ngày: 25/05/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quang Lệ.

2. Bà Vũ Thị Luyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Chung - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 25/05/2018, tại hội trường Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2018/HSST ngày 10/5/2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/QĐXX-ST ngày 11/05/2018 đối với bị cáo:

Đào Văn Ph ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976.

Nơi cư trú: xóm xóm Hạ, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Đào Văn Đ và bà Chu Thị T (đều đã chết); gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo đã có hai đời vợ đều đã ly hôn; vợ thứ nhất là Trần Thị U, sinh năm 1985, có 01 con chung; vợ thứ hai là Ngô Thị H có 02 con chung. Tổng cộng bị cáo có 03 con chung, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2016.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/03/2018 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980; trú quán: xóm Cầu Sơn, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Anh Lã Văn T, sinh năm 1982; trú quán: xóm Thanh Xuyên 5, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 40 phút ngày 20/03/2018, Tổ công tác Công an thị xã Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên phát hiện đối tượng Đào Văn Ph (sinh năm 1976; trú tại: xóm Hạ, xã Nam Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra Phúc đã tự nguyện giao nộp 01 gói giấy màu trắng hồng, bên trong có chất rắn màu trắng đục (nghi là Hêrôin) và số tiền 50.000đồng.

Tổ công tác đã lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra Đào Văn Ph khai nhận: Bản thân nghiện ma tuý, khoảng 10 giờ ngày 20/3/2018, Ph đang sửa xe máy tại ngã ba Tân Hương, thị xã Phổ Yên thì gặp một người nam giới Ph không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể người này nhờ Ph đi mua hộ ma túy, Ph đồng ý, người đàn ông đưa cho Ph 150.000đ và nhờ Ph mua 100.000đ ma túy và 50.000đ tiền để Ph đi xe ôm. Sau khi nhận tiền Ph đi xe ôm đến khu vực xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên để tìm mua ma túy. Khi đến xóm Kim Tỉnh, Phúc đi bộ vào một ngôi nhà có cửa xếp đóng kín bên trái hành lang đường Quốc lộ 3, hướng Thái Nguyên đi Hà Nội, Ph cầm 100.000đ đưa qua khe cửa phía dưới sát nền bê tông thì có người bên trong nhà cầm tiền rồi đưa cho Ph 01 gói ma túy được gói bằng mảnh giấy màu trắng hồng, mua xong Ph cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái đi bộ đường để bắt xe về thì bị lực lượng Công an thị xã Phổ Yên bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Tiến hành mở niêm phong cân trọng lượng số tang vật thu giữ của Đào Văn Ph, ngày 20/3/2018 xác định: Gói niêm phong được thu giữ có ký hiệu C bên trong có 01 gói giấy màu trắng hồng chứa chất rắn màu trắng đục có tổng trọng lượng (khối lượng) là 0,191gam. Sau khi cân trọng lượng số vật chứng tiếp tục niêm phong ký hiệu C1 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 496/KL-PC54 ngày 26/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận:Toàn bộ chất rắn màu trắng đục thu giữ của Đào Văn Phúc là chất ma túy, loại Hêrôin, có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,191gam.

Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKSPY, ngày 08/05/2018 của Viện kiểm sát nhân nhân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đào Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX.

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Đào Văn Ph từ 18 - 24 tháng tù.

* Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C1 ghi hoàn lại 0,158gam mẫu C1 còn lại sau giám định; 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C2 ghi lưu kho.

- Đối với số tiền 50.000đ thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định là tiền công bị cáo đi mua ma túy hộ mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉTXỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Hồi 10 giờ 40 phút, ngày 20/03/2018, tại khu vực hành lang đường Quốc lộ 3 cũ, thuộc xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên, Đào Văn Ph đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy (loại Heroine), có tổng trọng lượng (khối lượng) 0,191 gam, qua giám định là chất Heroine, mục đích mua hộ một đối tượng nam giới (theo Ph khai không biết tên, tuổi địa chỉ của người này nhờ bị cáo mua hộ tại ngã ba Tân Hương khi bị cáo sửa xe) để về cả hai cùng sử dụng chung thì bị Công an thị xã Phổ Yên phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

[4] Hành vi, ý thức của Đào Văn Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Bản cáo trạng số 55/CT- VKSPY ngày 08/05/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nội dung điểm c khoản 1 Điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)...............

c) Heroine.........có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[5] Xét tính chất vụ án thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là mặt hàng cấm do nhà nước độc quyền quản lý, song do nghiện ma túy, hám lợi đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ các con nghiện trên địa bàn. Do đó việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu rèn luyện bản thân, đua đòi, mắc nghiện ma tuý đã dẫn bị cáo đến con đường phạm tội.

[7] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[8] Hội đồng xét xử khi lượng hình thấy: Trong thời gian gần đây tình trạng phạm tội ma túy trên địa bàn thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày càng gia tăng, là nguyên nhân gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để đảm bảo kỷ cương pháp luật và ngăn chặn tình trạng phạm tội, HĐXX thấy cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đen phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp được chấp nhận.

[9] Hình phạt bổ sung: Tuy bị cáo là người đi mua hộ ma túy cho người khác mục đích để được sử dụng chung, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hiện không nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

[10] Vật chứng của vụ án thu giữ gồm:

- Số ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 50.000đ thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định là tiền đưa cho bị cáo để trả tiền xe ôm. Xét cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[11] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong vụ án này còn có đối tượng nam giới theo Ph khai nhờ Ph đi mua ma túy hộ nhưng không xác định được lai lịch địa chỉ người này. Về nguồn gốc ma túy, Ph khai mua tại một ngôi nhà có cửa xếp đóng kín ở đường Quốc lộ 3 cũ thuộc xóm Kim Tỉnh, xã Trung Thành, thị xã Phổ Yên. Khi mua, Phúc không nhìn thấy người bán nên không biết là ai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiếp tục điều tra đối tượng nhờ Ph mua ma túy hộ và người bán ma túy cho Ph xử lý sau.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Ph phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn Ph 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/03/2018.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Đào Văn Phúc 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo do xác định liên quan đến hành vi phạm tội (Tại Uỷ nhiệm chi số 84 lập ngày 22/05/2018).

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C1 ghi hoàn lại 0,158gam mẫu C1 còn lại sau giám định; 01 phong bì đã niêm phong có dấu đỏ ký hiệu C2 ghi lưu kho.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thị xã Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 22/05/2018).

4. Án phí: Căn cứ điều 135, 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ph phải chịu 200.000đ án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ