- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Hải Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Hải Đ phạm t i "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; luật tố tụng hình sự xử; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/HSST Ngày: 29/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa
2. Bà Nông Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2018/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2018/QĐXXST-HS ngày 10/08/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN HẢI Đ, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 24/2/1997; nơi sinh: TA, Cao Bằng; h khẩu thư ng tr : NL, MK, TA, Cao Bằng; chỗ ở: tổ ML, phư ng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; dân t c: tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình đ học v n: 9/12 phổ thông; con ông: không có; con bà: Trần Thị M, sinh năm 1961; anh, chị, em ru t: không; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; HKTT: xóm CK, xã BN, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; chỗ ở: tổ ML, phư ng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 gi ngày 09/5/2018 tại tổ 23, phư ng Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, đ i Cảnh sát điều tra t i phạm về Kinh tế - ma t y Công an thành phố Cao Bằng phát hiện hai đối tượng là Trần Hải Đ (sinh năm 1997; HKTT: NL, MK, TA, Cao Bằng) và Nguyễn Văn T (sinh năm 1988; HKTT: CK, BN, ĐT, Thái Nguyên) có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y, thu giữ vật chứng là 01 (m t) gói nhỏ gi y bạc màu trắng bên trong chứa ch t b t màu trắng dạng cục lẫn b t ở dưới đ t cạnh chỗ T và Đ đang đứng.
Ngày 10/5/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng và PC 54 Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong tang vật, cân xác định khối lượng tang vật xác định khối lượng tịnh 01 (m t) gói ch t b t màu trắng là 0,13g (không phẩy mư i ba gam).
Ngày 16/5/2018 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra quyết định trưng cầu giám định ch t ma t y số 80 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số: 91/GĐMT ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.
Tại cơ quan điều tra, Trần Hải Đ khai nhận: vào khoảng 20 gi 40 ph t ngày 09/5/2018, Trần Hải Đ từ phòng trọ của mình ở tổ ML, phư ng NX, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng đến khu vực ngã tư đầu cầu B gần cửa hàng điện thoại F (thu c tổ B, phư ng SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) gặp m t ngư i đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) mua 01 (m t) gói heroine với giá 100.000 đ (m t trăm nghìn đồng). Sau đó, Đ ra đư ng 03/10 và gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn T đến để cùng nhau sử dụng ma t y. Khoảng 10 ph t sau T đến, cả hai đi xuống b sông B gần Trung tâm H tỉnh Cao Bằng thu c tổ HB, phư ng SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng tìm chỗ sử dụng ma t y, chưa kịp sử dụng thì Công an thành phố Cao Bằng đến nên Đ thả gói heroine xuống dưới đ t ngay cạnh chỗ Đ đang đứng. Số ma t y trên đã bị thu giữ, niêm phong theo quy định pháp luật.
Hành vi của Trần Hải Đ đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về t i "Tàng trữ trái phép ch t ma t y" theo khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSTP ngày 06/8/2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Trần Hải Đ về t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Trần Hải Đ thừa nhận hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nh t trí với trọng lượng ma t y bị thu giữ và n i dung bản kết luận giám định số: 91/GĐMT ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Trần Hải Đphạm t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”, xử phạt bị cáo Trần Hải Đ từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo là ngư i nghiện ma t y, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 B luật hình sự, Điều 106 B luật tố tụng hình sự; đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật, tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo 01 điện thoại di đ ng do liên quan đến hành vi phạm t i.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với l i luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm t i và điều khoản xét xử: tại cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. L i khai nhận t i của bị cáo phù hợp với n i dung biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang, l i khai của ngư i làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: vào hồi 21 gi ngày 09/5/2018 tại tổ HB, phư ng SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng, Trần Hải Đ có hành vi tàng trữ trái phép 01 (m t) gói heroine có khối lượng là 0,13g (không phẩy mư i ba gam).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý đ c quyền của Nhà nước đối với các ch t gây nghiện, gây m t trật tự trị an, an toàn xã h i và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại t i phạm khác. Bị cáo là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma t y nhưng vẫn b t ch p pháp luật thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y với mục đích sử dụng cho bản thân. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y” theo điểm c khoản 1 Điều 249 B Luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) là có căn cứ, đ ng ngư i, đ ng t i, đ ng pháp luật.
Điều 249 B Luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) …
b) …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo là ngư i nghiện ma t y, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt chính: căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính ch t, mức đ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, H i đồng xét xử xét th y cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian nh t định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã h i. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp, cần được ch p nhận.
Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 B luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…” . Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như l i khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho th y bị cáo là ngư i nghiện ma t y, không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do vậy, H i đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này về nguồn gốc số heroine Trần Hải Đ mua với m t ngư i đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, địa chỉ gần cửa hàng điện thoại F. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đang tiếp tục điều tra làm rõ nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong m t vụ án khác.
Đối với Nguyễn Văn T, qua điều tra xác minh làm rõ T không liên quan đến hành vi phạm t i của Trần Hải Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép ch t ma t y là có căn cứ pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (m t) phong bì niêm phong là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di đ ng màu trắng xanh của bị cáo, xét th y liên quan đến hành vi phạm t i nên cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Trần Hải Đ phạm t i "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Trần Hải Đ 12 (mư i hai) tháng tù. Th i gian ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 09/5/2018.
Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 329 B luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 B luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật cân ghi vụ: Trần Hải Đ; SN: 1997 và Nguyễn Văn T, SN:1988; Tàng trữ trái phép ch t ma t y, bắt ngày 09/5/2018;
- Tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Trần Hải Đ 01 (m t) điện thoại di đ ng màu trắng xanh trong phong bì niêm phong ghi vụ: Trần Hải Đ, SN 1997 do liên quan đến hành vi phạm t i.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2018.
3. Về án phí: áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Trần Hải Đ phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 B luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quỳnh Mai |