vanban.org

Bản án 47/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt : Bùi Hoàng H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hoàng H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2018/HS-ST
Ngày : 20/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Quang Lý

2. Bà Bùi Thị Minh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 06 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 46/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 04 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: BÙI HOÀNG H; sinh ngày 07 tháng 12 năm 1981 tại Hà Nội; nơi đăng ký thường trú: Xóm A, xã C, huyện D, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: phụ may; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Trọng Q và bà Hoàng Thị V; vợ: Đinh Thị B; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 10/01/2018.

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 10h10’ ngày 10/01/2018, Công an Phường E, quận F kiểm tra hành chính khách sạn T, địa chỉ: đường Đ, Phường E, quận F phát hiện đối tượng Bùi Hoàng H đang thuê phòng số 7 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy trong người để sử dụng. Cụ thể, thu trong bóp da để trong túi quần phía sau bên phải của H đang mặc có 03 túi nylon chứa chất tinh thể không màu có khối lượng 1,2913 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine và 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,3523 gam là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine (theo Kết luận giám định số 296/KLGĐ-H ngày 16/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Quá trình điều tra, Bùi Hoàng H khai nhận bản thân đã sử dụng ma túy đá được khoảng 01 tháng. Ngày 08/01/2018, H từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh chơi và thuê phòng số 7 khách sạn T để ở. Trong thời gian này H lên mạng Internet. liên hệ được với một người phụ nữ bán ma túy ( không rõ lai lịch) và hỏi mua 03 gói ma túy đá giá 1.500.000 đồng để sử dụng, hai bên hẹn giao ma túy tại con hẻm gần khách sạn T. Sau khi nhận ma túy, H cất vào bóp trong túi quần sau bên phải rồi về khách sạn, H lấy một ít ra sử dụng, số còn lại cất vào bóp để vào túi quần để sử dụng dần thì bị công an kiểm tra thu giữ. Riêng 01 gói nylon ma túy Ketamine là của người bạn tên H1 (không rõ lai lịch) cho H để H sử dụng vào tối ngày 08/01/2018 khi H gặp H1 tại một quán nhậu ở Quận G. Ngoài ra trong quá trình ăn uống cùng nhau, H1 có nhờ H giữ dùm 01 bịch nylon bên trong có 01 cân điện tử và một số bịch nylon, nhưng H chưa đưa lại cho H1. H khai nhận mới quen biết H1 khoảng 01 tháng, không biết lai lịch, số điện thoại, nhà của H1, không biết H1 dùng cân điện tử, bịch nylon vào mục đích gì.

Ngoài việc bắt giữ Hải , công an còn thu giữ vật chứng gồm:

- Thu trong người H: 04 gói nylon chứa ma túy; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone và 01 điện thoại di động hiệu Nokia.

- Thu trong nhà vệ sinh: 01 bình hút thủy tinh bên trong có 01 nỏ thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh gắn ống hút bằng nhựa màu trắng là dụng cụ H sử dụng ma túy.

- Thu dưới sàn nhà ở góc phòng bên phải có 01 hộp nhựa bên trong có: 01 nỏ thủy tinh, 01 quẹt gas, là dụng cụ sử dụng ma túy của H; 01 kẹp kim loại, là dụng cụ sửa chữa hộp quạt gió của máy tính; 01 cân điện tử, một số bịch nylon, H khai là của người bạn tên H1 (không xác định lại lịch) nhờ H giữ dùm.

Tại cơ quan điều tra Bùi Hoàng H đã khai nhận hành phạm tội phù hợp với vật chứng thu giữ, đồng thời xác định đúng địa điểm, thời gian, phương thức, thủ đoạn phạm tội .

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị cáo khai nhận, do buồn chuyện gia đình nên đã mua ma túy về để sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 20 tháng 04 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Bùi Hoàng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đã trình bày luận tội, cụ thể: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, thì hành vi tàng trữ 1,2913 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,3523 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo Bùi Hoàng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng tới trật tự, an toàn tại địa phương, bị cáo phạm tội do cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo là thương binh hạng 4/4 do đó cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ căn cứ trên đề nghị áp dụng các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy; số dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy là vật không còn giá trị nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại Iphone 6 là tài sản bị cáo sử dụng trong việc liên lạc để mua ma túy, liên quan đến hành vị phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 01 điện thoại di động Nokia là tài sản riên của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, tranh tụng với Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh của bị cáo để chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm giúp cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo theo các tài liệu, chứng cứ được Công an quận Tân Bình lập, thì việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình ra quyết định tạm giữ, khởi tố vụ án, khởi tố bị can ra quyết định tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo Bùi Hoàng H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ, luận tội, tranh tụng; nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua việc thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo, thì hành vi cất giữ trái phép 2 chất ma túy gồm: 1,2913 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,3523 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo Bùi Hoàng H là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền độc quyền quản lý về chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xử phạt bị cáo như đã nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận .

Mặc dù biết tác hại của ma túy, nhưng do muốn thỏa mãn nhu cầu thấp hèn của cá nhân mình mà bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần xét xử bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cha bị cáo là thương binh hạng 4/4. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tính tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Việc đại diện Viện kiểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân bị cáo để đề nghị áp dụng điểm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 02 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 ghi số 296 (tang vật ma túy còn lại sau khi giám định) là vật nhà nước cấm lưu hành và các dụng cụ sử dụng ma túy: 01 nỏ thủy tinh gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 chai thủy tinh chứa 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp nhựa màu trắng, 01 cân điện tử, 01 quẹt gas, 01 nỏ thủy tinh, 01 kẹp kim loại, một số túi nylon là vật không có giá trị nên Hội đồng xét xử thống nhất tịch thu tiêu hủy như đề nghị của Viện kiểm sát.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 358359062365976 (có pin + sim) là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử thống nhất tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước như đề nghị của Viện kiểm sát.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia, số imei: 356039030174363 (không pin, không sim); 01 bóp màu đen thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật dụng cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 và Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Bùi Hoàng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt : Bùi Hoàng H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/01/2018.

[2] Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia, số imei: 356039030174363 (không pin, không sim), 01 bóp màu đen (Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 09/3/2018 của Công an quận Tân Bình).

[3] Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 358359062365976 (có pin + sim) (Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 09/3/2018 của Công an quận Tân Bình).

[4] Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2, ghi số 296 (tang vật ma túy còn lại sau giám định); 01 nỏ thủy tinh gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 chai thủy tinh chứa 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp nhựa màu trắng; 01 cân điện tử; 01 quẹt gas; 01 nỏ thủy tinh; 01 kẹp kim loại; một số túi nylon (tình trạng theo như Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày 09/03/2018 của Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

[5] Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

[6] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ