- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm V C phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/HSST Ngày 26/7/2018 V/v Phạm V C Tàng trữ trái phép Chất ma túy.. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông PHẠM VŨ PHƯƠNG Các hội thẩm nhân dân: Ông LÊ HUY TRỌNG và bà NGUYỄN THỊ MINH HUYỀN
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông NGUYỄN TIẾN HÙNG – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên tòa: Ông NGUYỄN QUANG HÒA – Kiểm sát viên
Trong ngày 26 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 52/2018/HSST ngày 29 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2018/HSST – QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm V C - Tên gọi khác: Không có, sinh năm: 1996; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Ch C, xã P T, huyện T O, thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Có bố là: Phạm V Q, sinh năm: 1963 và mẹ là: Phạm thị M, sinh năm: 1974. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2018. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 06/5/2018, Phạm V C, sinh năm 1996, trú tại thôn Ch C, xã P T, huyện T O, thành phố H đang cùng bạn gái là Lê thị V thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ T B thuộc tổ 3 thị trấn Kim bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội thì C muốn sử dụng ma túy nên đã đi bộ ra cầu Kim Bài để tìm mua ma túy, C mua được của một người đàn ông không quen biết một gói ma túy với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất gói ma túy vào vỏ bao diêm rồi đi bộ về nhà nghỉ, khi đi đến lối re vào nhà nghỉ thì C thấy Công an huyện Thanh Oai đang đi kiểm tra, nên C giấu gói ma túy vào gốc cây cột điện gần đó nhưng vẫn bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 túi nylon màu trắng, bên trong chứa các tinh thể màu trắng, C khai nhận đó là ma túy đá mua về để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 4641/PC54 ngày 14/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: “ Tinh thể màu trắng bên trong túi nylon là ma túy loại methamphetamine, khối lượng 0,239 gam”.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và trình bày: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, mải chơi, suy nghĩ bồng bột nên đã sử dụng ma túy, nay nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình làm lại cuộc sống.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố vì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản cáo trạng số 50/CT – VKS ngày 24/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Phạm V C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm V C mức hình phạt từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy tang vật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
.Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy trình Tố tụng hình sự.
.Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu điều tra đã được kiểm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Là đối tượng nghiện ma túy, ngày 06/5/2018 Phạm V C đã có hành vi mua và cất giữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng là 0,239 gam nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng công an huyện Thanh Oai kiểm tra, bắt quả tang.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 BLHS quy định về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" thì:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Hêrôin,Côcain,Methamphetamine,Amphetamine,MDMA có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam…
Như vậy hành vi của Phạm V C đã phạm vào tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2.1. Về tính chất: Vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ độc quyền quản lý, sử dụng các chất gây nghiện của nhà nước, bản thân bị cáo biết rõ việc mua và tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì mắc nghiện nên đã đi mua ma tuý để sử dụng, trực tiếp huỷ hoại sức khoẻ bản thân, gây thiệt hại đến kinh tế gia đình vì vậy phải có mức hình phạt phù hợp và cách ly ra khỏi xã hội để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
2.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai báo thành khẩn, vì vậy cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
2.3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị cách ly xã hội, trước khi phạm tội sống cùng gia đình không có thu nhập ổn định vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là hợp lý.
2.4. Đối với người đàn ông bán ma túy cho C do C không quen biết, không mô tả được đặc điểm, nhận dạng, cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Đối với Lê thị V không biết và không cho C tiền mua ma túy nên không phạm tội.
. Về tang vật: Chất ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Từ nhận định trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Phạm V C phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Phạm V C 12 ( Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 07 tháng 5 năm 2018.
3.Về tang vật của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì thư của phòng PC54 – Công an Hà Nội có chữ ký của Phạm V C và giám định viên.Vật chứng hiện đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Oai quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Oai lập ngày 03 tháng 7 năm 2018.
4. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phạm V C phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26/7/2018.
| Nơi nhận: TAND Tp.Hà Nội Sở Tư pháp Hà Nội VKSND Huyện Thanh Oai Công an Huyện Thanh Oai Bị cáo. UBND xã P T Lưu Hồ Sơ vụ án CÁC THÀNH VIÊNHỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TÒA CÁC THÀNH VIÊNHỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TÒA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ PHẠM VŨ PHƯƠNG THẨM PHÁN CHỦ TỌA THẨM PHÁN CHỦ TỌA |