- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐINH VĂN T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/HS-ST Ngày 08 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lô Thị Hiền;
Ông Nguyễn Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Hinh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Đinh Văn T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1983, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn H (đã chết) và bà Lý Thị N; có vợ: Dương Thị T; con: Có 01 con, sinh năm 2011; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Ông Bế Thanh H, sinh năm 1950, chết ngày 13/6/2018.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Chu Thị L (là vợ của ông Bế Thanh H); trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
2. Anh Bế Ngọc Đ (là con đẻ của ông Bế Thanh H); trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
3. Anh Bế Quang H (là con đẻ của ông Bế Thanh H); trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
4. Anh Bế Minh Đ (là con đẻ của ông Bế Thanh H), trú tại: Thôn N, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Dương Thị T, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Hoàng Thị N, chị Bế Thị H, anh Đoàn Văn D, anh Nông Văn T, anh Nông Văn M, anh Lương Văn T, anh Hoàng Văn T và anh Hoàng Văn H. Có mặt. Anh Hoàng Mạnh H, anh Lê Đức H, anh Nông Văn T, anh Hoàng Văn U. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 12/6/2018, Đinh Văn T đến nhà Hoàng Văn H người cùng thôn ăn cơm, uống rượu cùng Lương Văn T, Hoàng Văn T, Nông Văn T, Nông Văn M, Hoàng Văn U. Khoảng 23 giờ mọi người ăn cơm xong rồi rủ nhau đi hát Karaoke, nên Đinh Văn T đã về nhà lấy xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI APV biển kiểm soát 12A-079.06 màu sơn ghi, vàng đưa mọi người sang tỉnh Cao Bằng để hát. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 13/6/2018 thì mọi người cùng quay về và ra thị trấn T tìm ăn đêm, nhưng không có quán nào mở cửa, Đinh Văn T điều khiển xe ô tô chở mọi người quay lại đến thôn K, xã Đ, huyện T thấy quán bi a T mở cửa, nên đã dừng xe cùng nhau vào quán ăn mì tôm và chơi bi a ở đó. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Văn T tiếp tục chở mọi người về thôn N, xã T, huyện T, thì vào quán phở bà Chu Thị L để ăn sáng tiếp. Tại đây những người đi cùng Đinh Văn T lấy rượu ra uống, còn Đinh Văn T điều khiển xe mệt, nên không uống. Sau khi ăn sáng xong Đinh Văn T tiếp tục điều khiển xe chở mọi người đi về nhà, do sáng sớm nên Đinh Văn T điều khiển xe với tốc độ nhanh, khi đến dốc K thuộc thôn K, xã T, huyện T thì đi lẫn sang làn đường xe ngược chiều, Đinh Văn T tăng ga lấy đà lên dốc thì gặp xe ô tô tải đi ngược chiều tới, nên đã điều khiển xe tránh sang bên phải theo chiều đi của mình, thì đâm vào phía sau xe đạp của ông Bế Thanh H đang dắt bộ lên dốc đi phía trước cùng chiều, làm ông Bế Thanh H ngã xuống đường gây thương tích nặng được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu, do vết thương nặng nên đã chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Sau khi biết được ông Bế Thanh H phải chuyển viện tuyến trên, nên Đinh Văn T quay về nhà và nhờ anh Lê Đức H điều khiển xe ô tô chở Đinh Văn T cùng anh Hoàng Mạnh H đi theo sau, đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn thì được biết tình trạng vết thương ông Bế Thanh H quá nặng không thể cứu chữa được, thì Đinh Văn T cùng mọi người ra về nhưng do chưa ăn cơm trưa, nên cả ba ra chợ đêm ở thành phố Lạng Sơn ăn trưa. Lúc này do tinh thần hoang mang lo lắng Đinh Văn T và Hoàng Mạnh H gọi rượu ra uống, còn anh Lê Đức H lái xe không uống, ăn xong cả ba người về nhà. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, ông Bế Thanh H tử vong tại nhà.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn: Hiện trường không còn nguyên vẹn, xe ô tô con liên quan đến vụ tai nạn giao thông, không còn ở vị trí ban đầu, do đưa nạn nhân đi cấp cứu.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông cụ thể như sau: Xe ô tô con biển kiểm soát 12A-079.06, nhãn hiệu SUZUKI, góc bên phải kính chắn gió bị vỡ, cần gạt nước bên bên phải bị bẹp lõm, mặt trước góc bên phải nắp ca bô có vết bẹp lõm, mặt ngoài bên phải bađờsốc trước có vết mài xước.
Tại bản bản giám định kỹ thuật số 80/GĐKT-ĐK ngày 09/7/2018 do Công ty cổ phần đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Lạng Sơn kết luận: Xe ô tô biển số 12A-079.06 khi tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 78/2018/TT, ngày 25/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Nguyên nhân chết của ông Bế Thanh H là do chấn thương sọ não kín, vỡ xương hộp sọ vùng trán phức tạp do tương tác với vật tày quán tính lớn.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSTĐ ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Bế Ngọc Đ, anh Bế Quang H thừa nhận lời khai của bị cáo là đúng và khẳng định: Ngày 13/6/2018, hai bên gia đình đã tự thỏa thuận bồi thường tổn thất, mai táng phí với số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng. Do đó, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đinh Văn T. Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Chu Thị L, anh Bế Minh Đ có đơn xin vắng mặt, nhưng cũng khẳng định đã tự thỏa thuận bồi thường, không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260, điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại tài sản cho bị cáo Đinh Văn T xe và các giấy tờ xe; trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe đạp. Về trách nhiệm dân sự: Hai bên gia đình đã tự thỏa thuận, đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại.
Bị cáo Đinh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Bế Ngọc Đ, anh Bế Quang H không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và cũng phù hợp với thực tế vụ việc đã xảy ra. Mặc dù, bị cáo đã có giấy phép lái xe, mà bị cáo điều khiển xe cũng đảm bảo đầy đủ hệ thống an toàn, hoạt động bình thường, nhưng do bị cáo đã không chấp hành hệ thống biển báo hiệu đường bộ cảnh báo gồm biển báo 202a cảnh báo “Nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp”, biển báo 225 “trẻ em” báo trước là gần đến đoạn đường có nhiều trẻ em đi ngang qua hoặc tụ tập trên đường như vườn trẻ, trường học và biển bảo 219 “Dốc xuống nguy hiểm” báo trước sắp tới đoạn dốc nguy hiểm ở bên phải cạnh đường theo hướng đi, bị cáo đã điều khiển xe không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đi nhanh gặp chướng ngại vật, không giảm tốc độ theo quy định, không làm chủ tay lái, bị cáo đã đâm vào phía sau xe đạp ông Bế Thanh H đi cùng chiều, dẫn đến gây tai nạn nghiêm trọng hậu quả ông Bế Thanh H tử vong. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Đinh Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn giao thông tại địa phương, bị cáo đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của công dân. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được việc tham gia giao thông phải tuân thủ đúng quy định, nhưng bị cáo đã không chấp hành, nên đã phạm tội. Do đó, cần có một mức hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung đối với các đối tượng khác. Để có mức án thỏa đáng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã khắc phục hậu quả, thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng, và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.
Xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI APV biển kiểm soát 12A- 079.06 là phương tiện bị cáo gây ra tai nạn, nhưng xét thấy là tài sản chung của gia đình vay tiền Ngân hàng để mua, nên trả lại cho bị cáo. Các giấy tờ xe gồm giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ, giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy phép lái xe trả lại cho bị cáo. Chiếc xe đạp thống nhất của bị hại vẫn còn sử dụng được, nên trả lại cho đại diện gia đình bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường tổn thất, mai táng phí số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng, nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết nữa.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 260, điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/11/2018).
Giao bị cáo Đinh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI APV biển kiểm soát 12A- 079.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Đinh Văn T; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện cơ giới đường bộ; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm; 01 giấy phép lái xe mang tên Đinh Văn T.
Trả lại cho người đại diện hợp pháp anh Bế Ngọc Đ: 01 xe đạp thống nhất, màu sơn xanh.
(các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn theo biên bảo giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2018).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo, người người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Người người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định; - CQ điều tra Công an huyện Tràng Định; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã T, huyện T; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Triệu Thị Máy |