- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Lê Minh Kh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: BÞ cáo Lê Minh Kh ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/HS-ST Ngày: 05-7-2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tạ Văn Tấn
2. Ông Nguyễn Văn Thực
- Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lưu Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45 /2018/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Minh Kh, sinh năm 1952; nơi sinh: Tỉnh Hà Nam Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đông H và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); có vợ Trần Thị M, sinh năm 1951 và 02 con, con lớn sinh năm 1974, con nhỏ sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 10/12, sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/02/2018 đến ngày 14/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú” “có mặt”.
Những người làm chứng:
1. Ông Khúc Đình V, sinh năm 1960 “vắng mặt”. Trú tại: Khu B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1961 “vắng mặt”. Trú tại: Khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
-1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/02/2018, tại trục đường 39A trước cửa hiệu thuốc Thu Thảo thuộc địa phận khu Đ, thị trấn H, huyện H, Công an huyện H phát hiện bắt quả tang Lê Minh Kh có hành vi cất giấu tại lòng bàn tay trái 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, khi kiểm tra Kh khai nhận đó là ma túy loại Hêrôin mục đích để sử dụng. Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Ngoài ra, còn quản lý, thu giữ của Lê Minh Kh số tiền 85.000 đồng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Minh Kh, Công an huyện H, tỉnh Thái Bình thu giữ quản lý tại hộp bìa cát tông màu bỏ trong tủ đồ thuộc buồng ngủ 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 60/KLGĐ-PC54 ngày 12/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Lê Minh Kh là ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,3384 gam.
Bản cáo trạng số 46/2018/KSĐT ngày 05-6-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Lê Minh Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Trong phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh Kh như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Lê Minh Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Lê Minh Kh từ 01 năm tù đến 01 năm 3 tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Kh; Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì số 60/KLGĐ-PC 54 ngày 12/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình bên trong có ma túy và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; bị cáo Lê Minh Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Minh Kh nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh, điều kiện bị cáo đã già yếu, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có
-2
ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo Kh: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Minh Kh tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 11/02/2018 (Bút lục số 12, 13); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện H, tỉnh Thái Bình lập ngày 11/02/2018 (Bút lục số 19); biên bản khám xét do Công an huyện H lập ngày 11/02/2018 (Bút lục số 16, 17); bản kết luận giám định số 60/KLGĐ - PC54 ngày 12/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 23, 24); Lời khai của những người làm chứng: Ông Khúc Đình V và ông Trần Văn C (Bút lục từ số 66 đến số 73) cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 00 phút ngày 11/02/2018, tại trục đường 39A trước cửa hiệu thuốc Thu Thảo thuộc địa phận khu Đ, thị trấn H, huyện H Lê Minh Kh, sinh năm 1952 trú tại Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đã có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy, loại Hêrôin có khối lượng 0,3384 gam mục đích sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Lê Minh Kh đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Kh là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: Hµnh vi tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tóy mµ bÞ c¸o Lê Minh Kh thùc hiÖn lµ nguy hiÓm cho x· héi, ®· x©m ph¹m chính sách độc quyền qu¶n lý của Nhµ N íc về c¸c chÊt ma tóy. Hµnh vi cña bÞ c¸o cßn lµm mÊt trËt tù trÞ an vµ g©y bÊt b×nh trong quÇn chóng nh©n d©n t¹i ®Þa ph ¬ng và là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác như trộm cắp tài sản, giết người, cướp giật tài sản ….
Xét thân nhân của bị cáo, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị c¸o Lê Minh Kh không bÞ ¸p dông t×nh tiÕt t¨ng nÆng tr¸ch nhiÖm h×nh sù nào theo quy ®Þnh t¹i ĐiÒu 52 BLHS, quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ h«m nay bị cáo Kh b¸o thµnh khÈn nªn ® îc ¸p dông t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51 BLHS, trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Từ những nhận xét trên, HĐXX thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.
Về nguồn gốc số ma túy, Lê Minh Kh khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 11/02/2018 anh L ở thôn M, xã T, huyện H đi xe máy đến nhà Kh và rủ Kh đi
-3
mua ma túy về sử dụng chung sau đó cả hai đi lên thị trấn H, huyện H để mua ma túy. Khi đến khu Đ, thị trấn H thì Kh đứng đợi ở đường 39A, còn L đi mua ma túy, sau đó L đưa cho Kh 02 gói giấy bạc màu trắng. Kh biết đó là ma túy nên cầm trong lòng bàn tay trái. Sau đó cả hai đi về đến khu vực cầu Nai thì Kh xuống xe đi vào hiệu thuốc để mua xi lanh và bơm kim tiêm để sử dụng ma túy thì Kh bị Công an huyện H phát hiện bắt giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành điều tra, xác minh tại thôn M, xã T, huyện H có anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1988. Quá trình làm việc anh L xác định ngày 11/02/2018 anh L ở nhà làm công việc tráng bánh đa cùng với vợ và không đi đâu làm gì khác. Ngoài lời khai của Lê Minh Kh không còn chứng cứ nào khác chứng minh 02 gói ma túy (Hêrôin) Cơ quan điều tra thu giữ của Kh là do anh L đưa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xử lý gì đối với anh L là đúng quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Minh Kh là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 0,3101gam ( không phẩy ba nghìn một trăm linh một gam) ma túy, loại hêroin mẫu giám định bao gói trong bao niêm phong số 60/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu huỷ.
Bị cáo Lê Minh Kh phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyªn bè: BÞ cáo Lê Minh Kh ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
2. ¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự.
3. Ph¹t bị cáo Lê Minh Kh 01(một) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t thi hành án được trừ đi thời gian đã t¹m gi÷ (từ ngày 11/02/2018 đến ngày 14/02/2018).
4. VÒ xö lý vËt chøng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu huỷ: 0,3101gam (không phẩy ba nghìn một trăm linh một gam) ma túy, loại hêroin mẫu giám định bao gói trong bao niêm phong số 60/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
-4
5. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, bÞ c¸o Lê Minh Kh ph¶i chÞu 200.000đồng tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
BÞ c¸o Lê Minh Kh cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. * Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
ơ
- VKSND huyện H;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Chi cục THADS huyện H;
(đã ký)
- Công an huyện H;
- Bị cáo;
Trần Thị Nhàn
- Lưu hồ sơ. TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI BÌNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hưng Hà, ngày 05 tháng 7 năm 2018
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 15 ngày 05 tháng 7 năm 2018
-5
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Tạ Văn Tấn và
2.Ông Nguyễn Văn Thực
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Lê Minh Kh, sinh năm 1952; nơi sinh: Tỉnh Hà Nam Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1. Về tội danh: Tuyªn bè bÞ c¸o Lê Minh Kh ph¹m téi “Tµng tr÷ tr¸i phÐp chÊt ma tuý”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
¸p dông điểm c khoản 1 Điều 249, ®iÓm s kho¶n 1 §iÒu 51, ĐiÒu 38 Bộ luật hình sự.
Ph¹t bị cáo Lê Minh Kh 01(một) năm tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t thi hành án được trừ đi thời gian đã t¹m gi÷ (từ ngày 11/02/2018 đến ngày 14/02/2018).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu huỷ: 0,3101gam (không phẩy ba nghìn một trăm linh một gam) ma túy, loại hêroin mẫu giám định bao gói trong bao niêm phong số 60/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 bơm kim tiêm
-6
đã qua sử dụng (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình đang quản lý).
4. VÒ ¸n phÝ: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; bÞ c¸o Lê Minh Kh ph¶i chÞu 200.000® tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
5. BÞ c¸o Lê Minh Kh cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.
Kết quả biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 9 giờ 30 phút, ngày 05-7-2018
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| -7 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |