- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hùng V. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hùng V, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/HS-PT Ngày: 15-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯ C CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Minh Hương
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Ông Nguyễn Văn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào; Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2018/TLPT-HS ngày 29/6/2018 đối với bị cáo Trần Hùng V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2018/HSST ngày 16/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Trần Hùng V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 11 năm 1991 tại tỉnh Cần Thơ; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 81/34 đường TBH, phường LP, thành phố BL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Trần Văn S và bà Trần Thị T; Vợ là Phạm Thị Ngọc B; bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2018 đến ngày 13/02/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với gia đình ông Nguyễn Văn H, vào khoảng 19 giờ ngày 05/02/2017 Trần Hoàng G gọi cho em trai là Trần Vương V1 và Trần Hùng V, sau đó Trần Vương V1 gọi cho anh Trần Thiên Ph và Vũ Quốc T đến để giải quyết mâu thuẫn với gia đình ông H. Lúc này ông Trần Văn S (là bố ruột của G) can ngăn không cho mọi người đi đến nhà ông H nên tất cả giải tán đi về. Trên đường về, Trần Thiên Ph điều khiển xe mô tô chở Vũ Quốc T đi vào trong nhà ông H để nói chuyện hòa giải mâu thuẫn. Sợ T, Ph đến nhà ông H sẽ dẫn đến đánh nhau nên Trần Vương V1, Trần Hùng V và Trần Thị Ái Th (là vợ của anh G) đi bộ đến nhà ông H để gọi Ph và T về. Khi đến nhà ông H hai bên xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, chị Th khuyên can nhưng không ai nghe nên bỏ về nhà trước. Lúc này bà Nguyễn Thị V2 (là vợ của ông H) gọi điện thoại cho con gái là chị Nguyễn Thị Th1 và con trai là Nguyễn Văn Q. Chị Nguyễn Thị H (con ruột ông H) điện thoại cho bạn trai tên Phạm Văn Th2 biết sự việc. Sau khi nhận được thông báo từ bà V2, chị Th1 nói với chồng là anh Võ Đức M biết, anh M nghe vậy lấy xe mô tô chở chị Th1 đến nhà ông H. Anh Phạm Văn Th đang đi chơi cùng với Lê Nin D biết tin nên chở D về nhà ông H. Nguyễn Văn Q đang đi dự sinh nhật bạn rủ nhóm bạn gồm Nguyễn Thế V3, Vũ Thanh T1, Trần S, Trần Tuấn A, Nguyễn Minh D, Vũ Đức M1, Nguyễn T2, Nguyễn Quốc T3 đi tham gia đánh nhau thì tất cả đồng ý. Trên đường về nhà, Q mượn của D 01 con dao thái lan bằng kim loại dài 60 cm, bản rộng 05 cm; T2 mang theo 01 con dao thái lan bằng kim loại dài 60 cm, bản rộng 05 cm; Nguyễn Thế V3 mượn của Nguyễn Thành Quyền L 01 con dao bằng kim loại dài 39,5 cm, cán bằng gỗ dài 12 cm; Vũ Đức M2, Nguyễn T2, Nguyễn Quốc T3 mỗi người cầm 01 đoạn cây gỗ cà phê để làm hung khí tham gia đánh nhau.
Khi Th chở D đi đến nhà ông H thấy nhóm của V đang đứng chửi nhau với ông H, Th đi ra can ngăn, nhóm của V bỏ về nhà. Trên đường đi bộ về nhà anh G, nhóm của V gặp anh M chạy xe mô tô chở chị Th1 đi phía trước, phía sau là xe mô tô do Nguyễn Minh T điều khiển chở Nguyễn T1. Gặp nhóm của V, anh M dừng xe lại, bước xuống xe dùng chân đạp vào người của anh Vũ Quốc T và Trần Thiên Ph, cả hai bỏ chạy. Trần Hùng V chạy vào vườn cà phê gần đó nhặt 02 khúc cây gỗ cà phê dài khoảng 0,7 mét đến 01 mét quay lại đưa cho Trần Vương V1 01 khúc cây gỗ cây cà phê. Lúc này V1 thấy anh M đang đứng gần đó nên cầm khúc cây gỗ cà phê đi đến đánh 02 cái trúng vào người anh M và làm vỡ điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 625, màu đen anh M đang để trong túi quần. Bị V đánh, anh M bỏ chạy về phía nhà ông H, V cầm cây gỗ cà phê đuổi theo, dùng cây gỗ cà phê đánh 04 cái trúng người anh M làm anh M gục ngã xuống đất. V thấy đông người đi đến nên vứt cây gỗ cà phê rồi bỏ chạy vào vườn cà phê để trốn. Cùng lúc này ông H đang ở trong nhà thì thấy chị Th1 chạy vào nói anh M bị đánh đồng thời nghe tiếng kêu cứu của anh M ở khu vực trước cổng nhà mình nên ông H lấy cây sắt tròn dài 1,30 m, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn lưỡi kéo dài 10 cm chạy ra cổng thì gặp V1 cầm cây gỗ cà phê đi vào sân nhà ông H. Thấy V1 cầm cây cà phê đi vào sân nhà mình ông H cầm cây sắt đâm phần gắn lưỡi kéo trúng hông trái của V1, V1 cầm cây phê đánh liên tiếp 02 cái trúng vùng mặt trái và bắp tay phải của ông H làm ông H ngã gục xuống sân. Do bị đâm trúng hông trái gây chảy máu nên V1 vứt cây gỗ cà phê xuống đất bỏ đi ra trước cổng nhà ông H được anh Trần Hoàng G đến đưa đi bệnh viện cấp cứu. Khoảng 10 phút sau khi bỏ chạy, Trần Thiên Ph cầm theo 01 khúc cây gỗ cà phê quay lại nhà ông H thì thấy ông H đang nằm ngục ở trước sân gần cổng ra vào nên Ph vung cây cà phê đánh vào vùng đầu ông H nhưng không trúng. Thấy vậy Nguyễn Văn Q cầm 01 con dao tự chế, V2 cầm con dao bằng kim loại dài 40 cm, T và M1 cầm cây cà phê đuổi đánh Ph, Ph bỏ chạy về hướng nhà anh G được khoảng 40 mét thì bị ngã xuống mương thoát nước bên đường Phùng Khắc Khoan thì V2 vung dao định chém về phía Ph, cùng lúc này Q đứng phía sau vung dao chém trúng lưng của V (do trời tối nên Q chém nhầm V). Bị chém trúng lưng nên V2 quăng dao nhảy lên khỏi mương nước, Q dùng dao chém 01 nhát trúng vai phải của Ph, V2 giật cây cà phê trên tay của M1 đánh 01 cái trúng đầu của Ph rồi cả nhóm bỏ về. Trần Thiên Ph, Nguyễn Văn M1, Nguyễn Văn H được người thân chở đi Bệnh viện II Lâm Đồng để điều trị vết thương.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 71/17/TgT, ngày 04/08/2017 của Viện pháp y quốc gia – Phân viện tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: anh Võ Đức M bị sẹo chân mày phải, nhỏ, không ảnh hưởng phần thẩm mỹ; Mù mắt phải do đục thủy tinh thể do chấn thương; Gãy mõm cùng vai trái, can xương liền tốt không ảnh hưởng chức năng khớp vai trái; Gãy cung trước xương sườn VIII, IX, X trái, can xương liền tốt, không di lệch, được xác định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Võ Đức M là 49% (bốn mươi chín phần trăm).
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 86/2017/TgT, ngày 03/05/2017 của Trung Tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Hiện tại không thấy tổn thương thực thể theo giấy chứng nhận thương tích, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Văn H là 0% (không phần trăm).
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 90/2017/TgT, ngày 03/05/2017 của Trung Tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Trần Vương V1 bị vết thương ngực trái khoang liên sườn 5 – 6 đường nách trước dài 2,5cm; tràn máu, tràn khí phổi trái đã dẫn lưu, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 6% (sáu phần trăm).
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1477/C54B, ngày 15/05/2017 của Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thương tích của ông Trần Vương V1 do vật sắc nhọn tác động gây ra.
Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 88/2017/TgT, ngày 03/05/2017 của Trung Tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: anh Trần Thiên Ph bị vết thương vai phải dài 8,5cm, được xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 08% (tám phần trăm).
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bảo Lộc thu giữ: 01 con dao dài 35 cm, cán dao bằng gỗ màu nâu dài 12 cm, bản dao rộng 08cm; 01 cây gỗ cà phê dài 105 cm, đường kính đầu lớn nhất 03 cm, nhỏ nhất 2,5 cm; 01 cây gỗ cà phê dài 107 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 cây tre dài 85 cm, đường kính 05 cm, bị nứt. 01 cây tre dài 90 cm, đường kính 05 cm; 01 cây tre dài 99 cm, đường kính 04 cm; 01 đôi dép có in dòng chữ ADIVA. 01 cây gỗ cà phê dài 116 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 cây cà phê dài 90 cm, đường kính 03 cm; 01 cây gỗ cà phê dài 105 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 đoạn gỗ ép hình chữ V dài 90 cm; 01 đoạn gỗ ép hình chữ V dài 77 cm; 01 khúc cây gỗ dài 43 cm; 01 khúc cây gỗ dài 36 cm; 01 cục gạch 04 lỗ bị bể một góc. 01 mũ bảo hiểm màu nâu đã bị nứt, có dòng chữ V1A - SAFETY FASHION02 và tấm kính của mũ bảo hiểm; 01 con dao bằng kim loại dài 60cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, bản dao rộng 04cm, mũi nhọn; 01 cây sắt tròn dài 1,3 m, gồm phần cán dài 1,2 m trong đó có 02 đoạn ống sắt tròn kích thước dài 35 cm, đường kính 2,5 cm và 01 đoạn kích thước dài 85cm, đường kính 2 cm, phần gắn lưỡi sắt dài 10 cm, bản rộng nhất 2 cm, mũi nhọn; 01 con dao bằng kim loại dài 39,5cm, cán bằng gỗ dài 12cm, bản dao rộng 6,5cm; 01 điện thoại di động nhn hiệu Nokia 625, màu đen bị bể màn hình và vỏ nhựa phía sau; 01 áo khoác bằng vải màu đen, có mũ, bị rách ở ngực trái kích thước 16 x 16 cm, rách ở ngực phải và vai; Số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) do Trần Hùng Vương giao nộp để khắc phục hậu quả.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Trần Hùng V và Trần Vương V1 đã bồi thường cho anh Võ Đức M số tiền 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), V và V1 liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Văn H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận số tiền nêu trên anh Võ Đức M và ông Nguyễn Văn H không yêu cầu đề nghị gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho V và V1. Gia đình Nguyễn Văn Q, Nguyễn Quốc T, Vũ Đức M1, Nguyễn Thế V2 đã liên đới bồi thường cho anh Trần Thiên Ph số tiền 12.750.000đ (mười hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Sau khi nhận số tiền nêu trên anh Trần Thiên Ph không yêu cầu đề nghị gì thêm. Đối với thương tích của Trần Vương V1 do Nguyễn Văn H gây ra, V1 không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường.
Bản án số 33/2018/HSST Ngày 16-5-2018 Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tuyên bố các bị cáo Trần Hùng V, Trần Vương V1 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trần Hùng V 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/01/2018 đến ngày 13/02/2018.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trần Vương V1 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (16/5/2018). Giao bị cáo Vi cho Ủy ban nhân dân phường Lộc phát, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Bản án còn xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 28/5/2018 bị cáo Trần Hùng V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xuất trình có ông ngoại là liệt sỹ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Trần Hùng V và Trần Vương V1 đã có hành vi dùng cây gỗ đánh nhiều nhát vào vùng đầu và người của anh Võ Đức M, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 49% (bốn mươi chín phần trăm). Hành vi của bị cáo đã bị cấp sơ thẩm tuyên bố phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khi xét xử cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 41/QH của Quốc Hội theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính tiết giảm nhẹ, tăng nặng:
Bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường toàn bộ thiệt hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo V giữ nguyên nội dung kháng cáo xuất trình ông ngoại là liệt sỹ nên Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo là có cơ sở. Do vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Hùng V, sửa Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Trần Hùng V phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Hùng V 36 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/01/2018 đến ngày 13/02/2018.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Hùng V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lục thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT(I) – TANDTC; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - TAND, VKSND cấp sơ thẩm; - Chi cục THADS thành phố Bảo Lộc; - Cơ quan THAHS thành phố Bảo Lộc; - Cơ quan CSĐT thành phố Bảo Lộc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, Án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Kim Đồng Nguyễn Văn Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN NAM TP. BẢO ỘC – ÂM ĐỒNG BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào Hồi giờ ngày 16 tháng 5 năm 2018; Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Tú. - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đăng Khoa - Bà Đỗ Thị Hải. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018 đối với: và bị cáo Trần Vương Vi, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1992 tại Cần Thơ; Căn cứ các điều 229 và điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO UẬN, BIỂU QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: Vương Vi phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Hùng Vương 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/01/2018 đến ngày 13/02/2018. Điều 60 Bộ luật Hình sự 1999; điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Vương Vi 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (16/5/2018). Giao bị cáo Vi cho Ủy ban nhân dân phường Lộc phát, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 tiêu hủy: 01 con dao dài 35 cm, cán dao bằng gỗ màu nâu dài 12 cm, bản lưỡi dao rộng 08cm; 01 cây gỗ cà phê dài 105 cm, đường kính đầu lớn nhất 03 cm, nhỏ nhất 2,5 cm; 01 cây gỗ cà phê dài 107 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 cây tre dài 85 cm, đường kính 05 cm, bị nứt; 01 cây tre dài 90 cm, đường kính 05 cm; 01 cây tre dài 99 cm, đường kính 04 cm; 01 cây gỗ cà phê dài 116 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 cây cà phê dài 90 cm, đường kính 03 cm; 01 cây gỗ cà phê dài 105 cm, đường kính phần lớn nhất 04 cm, nhỏ nhất 03 cm; 01 đoạn gỗ ép hình chữ V dài 90 cm; 01 đoạn gỗ ép hình chữ V dài 77 cm; 01 khúc cây gỗ dài 43 cm; 01 khúc cây gỗ dài 36 cm; 01 cục gạch 04 lỗ bị bể một góc; 01 con dao bằng kim loại dài 60cm, cán dao bằng gỗ dài 12cm, bản dao rộng 04cm, mũi nhọn; 01 cây sắt tròn dài 1,3 m, gồm phần cán dài 1,2 m trong đó có 02 đoạn ống sắt tròn kích thước dài 35 cm, đường kính 2,5 cm và 01 đoạn kích thước dài 85 cm, đường kính 2 cm, phần gắn lưỡi sắt dài 10 cm, bản rộng nhất 2 cm, mũi nhọn. 01 con dao bằng kim loại dài 39,5 cm, cán bằng gỗ dài 12 cm, bản dao rộng 6,5 cm (theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 14/5/2018 giữa cơ quan CSĐT công an thành phố Bảo Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc). Kết quả biểu quyết: 3/3 triệu đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Minh Hương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Hương CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Bị cáo: Trần Hùng Vương, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1991 tại Cần Thơ Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả 1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Hùng Vương, Trần Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Áp dụng khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; 2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu 3/ Trả lại cho bị cáo Trần Hùng Vương số tiền 20.000.000đ (hai mươi 4/ Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326 THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đình Tú |