vanban.org

Bản án 47/2018/DSST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Bà Lê Thị B, Ông Hồ Văn L với Ông Trần Bé E, Nguyễn Thị U"
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106 Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số:47/2018/DSST
Ngày 30 tháng 11 năm 2018
Về T/C về hợp đồng dân sự
cầm cố QSD đất và thuê QSDĐ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AM - KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Mỹ Huê

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Thành Bê

2. Bà Hồ Thị Hoa

Thư ký phiên tòa: Phan Thị Hồng Nhung - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện AM, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AM - Kiên Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện AM-Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2017/TLST-DS ngày 06/10/2017 về việc tranh chấp dân sự “Tranh chấp về hợp đồng dân sự cầm cố QSD đất và cho thuê quyền sử dụng đất” theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 118/2018/QĐST-DS ngày 30/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2018/QĐST-DS ngày 20/11/2018 giữa các đƣơng sự:

* Đồng nguyên đơn:

- Bà Lê Thị B, sinh năm 1945

- Ông Hồ Văn L sinh năm 1943 (có mặt)

Ngƣời đại diện theo quy định pháp luật của bà B là ông Hồ Văn L, sinh năm 1943,theo giấy ủy quyền ngày12/11/2018 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Thạnh Tiên, xã Đông Thạnh, huyện AM - Kiên Giang.

- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 (có mặt)

- Bà Tô Thị H, sinh năm 1951 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Xẻo Nhàu B, xã Tân Thạnh, huyện AM-Kiên Giang.

* Đồng bị đơn: - Ông Trần Bé E, sinh năm 1963 (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM - Kiên Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Minh N, sinh năm 1959 vắng mặt)

- Bà Võ Thị Út, sinh năm 1966 (vắng mặt)

- Ông Nguyễn Tấn Hân, sinh năm 1967 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Xẻo Nhàu B, xã Tân Thạnh, huyện AM, tỉnh kiên Giang.

- Bà Phan Thị Đ, 80 tuổi, (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM - Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/9/2017 và biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2018 nguyên đơn bà Tô Thị H và ông Nguyễn Văn S trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Vào ngày 22 tháng 5 năm 1996 âm li ̣ch ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út có cố cho chúng tôi diện tích đất là 08 công (tầm 3 mét) giá 13 chỉ vàng 24kra, thời hạn cố khi nào ông Bé E và bà Út có vàng thì chuộc lại đất, việc cầm cố có lập văn bản viết tay, khi thỏa thuận xong thì ông Bé E giao đất cho vợ chồng ông sử dụng, vợ chồng ông giao vàng cho ông bé E nhận.

Vào năm 1996 vợ chồng ông Bé E có cố cho ông H diện tích đất 05 công tầm 3 mét, giá 10 chỉ vàng 24kra, tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM, sau khi cố đất ông H sử dụng đến ngày 01/4/1997 thì ông H cố lại cho ông S, ông S trả 10 chỉ vàng cố đất lại cho ông H, việc cố đất giữa ông S và ông H có lập văn bản giấy viết tay, nhƣ vậy vợ chồng ông S sử dụng đất cố của ông Bé E và bà Út là 13 công tầm 03 mét, vị trí phần đất cố hƣớng đông giáp đất ông Bé E và đất mà ông L cố của ông Bé E, hƣớng tây giáp phất ông Lê Điền Anh, hƣớng nam giáp đất ông Trần Bé E, hƣớng bắc giáp Kênh Ba Giáp, vàng cố đất là 23 chỉ vàng 24kra (vàng thƣờng).

Ngày 20/02/2001 bà Phan Thị Đ (mẹ ông Bé E) có thỏa thuận với vợ chồng ông S xin chuộc lại 02 công đất tầm 3 mét trong số 13 công đất ông S, bà Hnhận cầm cố với ông Bé E và ông H, bà trả lại cho vợ chồng ông S, bà H 04 chỉ vàng 24ra, đến năm 2001 ông S. Bà H nhận cầm cố đất với ông Trần Bé E. Bà Út là 11 công đất tầm 3 mét, ông Bé E và bà Út nhận vàng của ông S và bà H 19 chỉ vàng 24kra (vàng thƣờng)

Năm 2003 ông S, bà H thỏa thuận với ông Bé E, bà Út cho ông Bé E, bà Út thuê lại 11 công đất mỗi năm là 3.850.000đ, tiền thuê đất trả hàng năm, việc cho thuê đất lại thỏa thuận bằng lời nói, ông Bé E , bà Út thuê đất có trả tiền thuê đất cho ông S, bà H đến năm 2015, từ năm 2016 đến nay không trả tiền thuế đất và không trả vàng cố đất lại cho ông bà mà lấy phần đất này sang nhƣợng lại cho ông N và bà Võ Thị Út nên phát sinh tranh chấp ông bà khởi kiện.

- Nay ông bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện AM hũy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông (Nguyễn Văn S) với vợ chồng ông Trần Bé E xác lập ngày 22/5/1996 và Giấy cố đất giữa ông S và ông H xác lập ngày 01/4/1997, buộc ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả lại cho ông 19 chỉ vàng 24kra và phải trả tiền thuê đất 02 năm (2016 - 2017) là 7.000.000đ, ngoài ra không yêu cầu gì khác, phần đất cầm cố thì hiện nay ông Bé E , bà Út lấy lại giao cho ông N và bà Võ Thị Út sử dụng nên vợ chồng ông không có nghĩa vụ trả lại.

* Trong đơn khởi kiện ghi ngày 06/9/2017 và biên bản lấy lời khai ngày 02/02/2018 nguyên đơn ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B trình bày và yêu cầu như sau:

Vào tháng 01 năm 1996 ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út cầm cố cho vợ chồng ông diện tích đất 05 công tầm 03 mét, vị trí thửa đất hƣớng đông, tây, nam giáp đất ông Bé E cố cho ông Nguyễn Văn S, hƣớng bắc giáp đất ông Bé E (hƣớng Kênh Ba Giáp), diện tích đất cố tại ấp Thạnh Thuận, xã Đông Thạnh. Khi cầm cố có làm giấy viết tay, giá cố 10 chỉ vàng 24kra, ông bà giao vàng cho ông Bé E và bà Út nhận, ông Bé E và bà Út giao đất cho ông bà sử dụng trồng lúa, lòng mƣơng thì ông Bé E nuôi cá, thời gian cố là 02 năm, khi đến thời hạn chuộc lại đất ông Bé E và bà Út không chuộc nên vợ chồng ông bà tiếp tục sử dụng đến năm 2003, do đất chuyển mục đích sử dụng vụ lúa, vụ tôm nên ông bà không sản xuất lúa đƣợc nên cho vợ chồng ông Bé E thuê lại diện tích trên mỗi năm 15 giạ lúa, ông Bé E và bà Út đã trả lúa thuê đất cho vợ chồng ông L đƣợc 03 năm còn thiếu lại 02 năm (2016-2017) không trả tiền thuê đất cho vợ chồng ông, không trả vàng cho vợ chồng ông mà sang phần đất cho ông Lê Văn N và bà Võ Thị Út nên chúng tôi khởi kiện.

Nay chúng tôi tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện giải quyết hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông L với vợ chồng ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út xác lập ngày 01/01/1996. Buộc ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả lại cho vợ chồng ông 10 chỉ vàng 24kra, và 3.600.000đ tiền thuê đất 02 năm (2016 và 2017), ngoài ra không yêu cầu gì khác.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/7/2018 bị đơn ông Trần Bé E trình bày và yêu cầu:

Vào năm 1996 tôi không nhớ ngày tháng, vợ chồng tôi có cố cho ông Nguyễn Tấn H 05 công đất tầm 3 mét, giá 10 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng, cố cho ông Hồ Văn L 05 công đất tầm 03 mét, giá 10 chỉ vàng 24kra, ông Nguyễn Văn S 08 công tầm 3 mét, giá cố 13 chỉ vàng 24kra, thời gian cố không quy định mà khi nào có vàng thì chuộc lại đất, sau khi ông H, ông L, ông S giao vàng cho tôi thì tôi giao đất cho các ông sử dụng sản xuất lúa, mẹ tôi là bà Phan Thị Đ nuôi cá đồng, sau một thời gian thì ông H giao phần đất cố của tôi cho ông S sử dụng, ông S giao vàng cố đất lại cho ông H không thông qua ông, năm 2001 thì mẹ tôi xin chuộc lại 02 công đất tầm 3 mét và bà trả cho ông S 04 chỉ vàng 24kra; Năm 2003 ông thuê lại 11 của ông S, số tiền thuê đất hàng năm 3.850.000đ, ông giao tiền thuê đất cho ông S đến năm 2014, từ năm 2015 tôi không trả tiền thuê đất nên ông S đòi lấy đất sử dụng, ông đồng ý giao phần đất cố cho ông S sử dụng nhƣng ông S không sử dụng, ông cũng không sử dụng đất. Do điều kiện khó khăn nên tôi thỏa thuận với ông N bà Út sang nhƣợng phần đất để lấy vàng trả cho ông S và ông L, khi thỏa thuận xong yêu cầu địa chính xuống đo đạt thì bị ông Nguyễn Văn M ngƣời có đất giáp ranh tranh chấp không làm thủ tục chuyển quyền đƣợc, ông đã nhận của ông N 70 chỉ vàng 24kra, năm 2017 tôi giao phần đất mà tôi cố cho ông S và ông Lcho ông N sử dụng nên phát sinh tranh chấp.

Hiện nay tôi xác định còn thiếu vàng cố đất của ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B 10 chỉ vàng 24kra, thiếu của ông Nguyễn Văn S và bà Tô Thị H 19 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng. Diện tích đất cố nêu trên hiện nay tôi lấy lại từ năm 2003 và giao cho ông N và bà Võ Thị Út và mẹ tôi (Phan Thị Đ) sử dụng.

Lúa thuê đất thì ông thiếu ông L 02 năm năm 2016 và năm 2017 chƣa tra, không thiếu ông S năm nào vì năm 2017 ông S đòi vào lấy đất nên tôi đồng ý giao đất cho ông làm mà ông không làm nay đòi tiền thuê đất ông không đồng ý.

Nay theo yêu cầu của ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B đòi vợ chồng tôi phải trả lại số vàng 10 chỉ vàng 24kra, ông Nguyễn Văn S và bà Tô Thị H đòi tôi trả lại 19 chỉ vàng 24kra tôi đồng ý trả vàng lại cho ông S, ông L nhƣng hẹn đến tháng 12 năm 2019 trả đủ vàng cho các ông bà trên, tiền thuê đất của ông L tôi hẹn tháng 12/2018 trả, ông S không đồng ý trả tiền thuê đất, đối với số tiền thuê đất tôi đã trả cho ông S, ông L xong, không yêu cầu đòi lại.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/02/2018 và 28/02/2018 Người có quyền ợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út trình bày:

Diện tích đất ông Bé E và bà Út hiện nay đang tranh chấp với ông L, ông S chúng tôi đang sử dụng việc sử dụng đất của ông Bé E là vào khoảng tháng 4 năm 2009 chúng tôi thỏa thuận với ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM để nhận chuyển nhƣợng phần đất diện tích 25 công tầm 03 mét, giá 35 cây vàng 24kra, tôi giao trƣớc 70 chỉ (07 cây) phần còn lại khi nào hoàn thành giấy tờ thì tôi giao đủ số vàng còn lại cho ông Bé E và bà Út, khi địa chính xuống đo đạt để làm thủ tục chuyển quyền cho chúng tôi thì bị ông M ngƣời có đất giáp ranh tranh chấp nên không làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đƣợc, sau đó đến ngày 30 tháng 02 năm 2012 ông Bé E và bà Út giao cho tôi sử dụng một năm thì chúng tôi cho ông Bé E và bà Út thuê lại sử dụng đến năm 2017 sau đó ông Bé E, bà Út tiếp tục giao đất lại cho tôi sử dụng 1/2 diện tích đất trong số 25 công mà ông Bé E sang cho tôi nói, chúng tôi sử dụng cho đến nay.

Hiện nay ông L, bà B; ông S và bà H tranh chấp với nhau phần đất hiện nay vợ chồng ông bà đang sử dụng. ông N, bà Út không khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết đối với ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trong cùng vụ án này. Nếu giữa vợ chồng ông và ông Bé E, bà Nguyễn Thị Út có tranh chấp thì tôi khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết riêng.

* Tại biên bản lấy lời khai ngay 24/9/2018, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà phan Thị Đ trình bày:

Con tôi là Trần Bé E, dâu là Nguyễn Thị Út cầm cố diện tích đất với ông S, ông L lúc nào tôi không biết nhƣng trong đó có một phần đất của bà, năm 2001 tôi biết đƣợc nên xuất vàng ra chuột lại 02 công tất tầm 3 mét, phần đất giáp đất Lê Điền Anh (hiện nay có ngôi nhà Bé E cất), bà trả lại cho ông S 04 chỉ vàng 24kra, diện tích đất sau khi chuộc lại cho đến nay bà sử dụng, phần vàng 04 chỉ trả cho ông Sanh thì hiện nay bà không tranh chấp không yêu cầu ông Trần Bé E và Nguyễn Thị Út trả lại.

* Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 24/9/2018 ông Nguyễn Tấn H trình bày:

Vào tháng 4 năm 1996 âm lịch, tôi nhận cầm cố diện tích đất 05 công tầm 3 mét với ông Trần Bé E, với số vàng 10 chỉ vàng 24kra, khi cầm cố có làm hợp đồng viết tay, thời gian cố 02 năm, tôi giao vàng cho ông Bé E nhận, ông Bé E giao đất cho tôi sử dụng đến hết hợp đồng ông Bé E không chuộc lại nên tôi thỏa thuận với ông S, cầm cố phần đất cho ông S sử dụng, ông S trả 10 chỉ vàng lại cho tôi.

Nay ông xác định không liên quan gì đến phần tranh chấp giữa ông S, ông L với ông Bé E, ông yêu cầu Tòa giải quyết xét xử vắng mặt ông tại Tòa án.

* Tại phiên tòa:

- Đồng nguyên đơn ông Hồ Văn L, ông L đại diện của bà Bé yêu cầu ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả lại cho ông 10 chỉ vàng 24kra là số vàng ông Bé Em, bà Út nhận cố đất cho ông bà.

Đối với 3.600.000đ tiền cho thuê đất, ông xin rút lại không yêu cầu Tòa giải quyết, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Diện tích đất cầm cố ông Bé E nhận lại giao cho ông N và bà Võ Thị Út sử dụng nên ông bà không có trách nhiệm trả lại cho ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út.

- Ông Nguyễn Văn S và bà H yêu cầu ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả lại cho ông bà 19 chỉ vàng 24kra, xin rút lại yêu cầu khởi kiện đòi 7.000.000đ tiền cho thuê đất của năm 2015 và 2016, không yêu cầu Tòa giải quyết; diện tích đất cầm cố hiện nay ông Bé E đã lấy lại giao cho ông N và bà Út sử dụng nên ông bà không có trách nhiệm trả lại.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thụ lý vụ án và xác định mối quan hệ pháp luật, đƣa tƣ cách tham gia tố tụng, về chứng cứ, chứng minh ; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Thƣ ký Tòa án thực hiện đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định tại 51 của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với các đƣơng sự thì từ khi thụ lý vụ án đến nay nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, đối với bị đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chƣa thực hiện dầy đủ theo quy định tại các điều 70, 71, 72 và 73 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Nội dung: ngày 22/5/1996 âm li ̣ch ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út có cố cho S, bà H diện tích đất là 08 công (tầm 3 mét) giá 13 chỉ vàng 24kra, thời hạn cố không quy định, việc cầm cố có lập văn bản viết tay, ông Bé E giao đất cho vợ chồng ông sử dụng, vợ chồng ông giao vàng cho ông bé E nhận.

Vào ngày 28/4/1996 vợ chồng ông Bé E có cố cho ông H 05 công đất tầm 3 mét, giá 10 chỉ vàng 24kra, có làm hợp đồng viết tay, sau khi cố đất ông H sử dụng đến ngày 01/4/1997 thì ông H cố phần đất cho ông S sử dụng, ông S trả 10 chỉ vàng cố đất lại cho ông H, việc chuyển giao cố đất giữa ông S và ông H có lập văn bản giấy viết tay, nhƣ vậy đến năm 1997 cho ông S sử dụng đất của ông Bé E tất cả là 13 công tầm 03 mét, vị trí phần đất cố hƣớng đông giáp đất ông Bé E và đất mà ông L cố của ông Bé E, hƣớng tây giáp phất ông Lê Điền Anh, hƣớng nam giáp đất ông Trần Bé E, hƣớng bắc đất ông Bé Em (Kênh Ba Giáp), diện tích đất cầm cố tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM, ông Bé E và bà Út nhận vàng của ông S, bà H là 23 chỉ vàng 24kra.

Ngày 20/02/2001 bà Phan Thị Đ (mẹ ông Bé E) có thỏa thuận với vợ chồng ông S chuộc lại 02 công đất tầm 3 mét, bà trả lại cho vợ chồng ông S 04 chỉ vàng 24ra, Nhƣ vậy đến thời điểm năm 2001 thì vợ chồng ông S nhận cầm cố đất và sử dụng đất của vợ chồng ông Trần Bé E là 11 công đất tầm 3 mét, ông Bé E và bà Út nhận vàng của ông S và bà H 19 chỉ vàng 24kra (vàng 98%)

Năm 2003 vợ chồng ông Bé E thuê lại 11 công đất cố trên mỗi năm là 3.850.000đ, tiền thuê đất trả hàng năm, việc thỏa thuận cho thuê đất lại thỏa thuận bằng lời nói, sau khi vợ chồng ông Bé E thuê đất có trả tiền thuê đất cho vợ chồng đến năm 2015, từ năm 2016 đến nay không trả tiền thuế đất mà không trả vàng cố đất lại cho ông bà mà tiếp tục cố phần đất này lại cho ông N và bà Võ Thị Út nên ông bà khởi kiện.

Ngày 01/41996 ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út cầm cố cho vợ chồng ông L, bà B diện tích đất 05 công tầm 03 mét, vị trí thửa đất cố hƣớng mặt trời mộc giáp đất ông Bé E, hai hƣớng giáp đất ông Bé E cố cho ông Nguyễn Văn S, hƣớng bắc giáp Kênh ba Giáp, diện tích đất cố tại ấp Thạnh Thuận, xã Đông Thạnh. Khi cầm cố có làm giấy viết tay, giá cố 10 chỉ, ông Bé E và bà Út giao đất cho vợ chồng ông sử dụng trồng lúa, thời gian cố là 02 năm, khi đến thời hạn chuộc lại đất ông Bé E và bà Út không chuộc lại đất nên vợ chồng ông bà tiếp tục sử dụng đến năm 2003 cho vợ chồng ông Bé E thuê lại diện tích trên mỗi năm 15 giạ lúa, ông Bé E và bà Út đã giao lúa thuê đất cho vợ chồng ông L đến năm 2015, còn thiếu lại 02 năm (2016-2017) không trả tiền thuê đất cho vợ chồng ông, không trả vàng cho vợ chồng ông mà phần đất sang lại cho ông Lê Văn N và bà Võ Thị Út nên phát sinh tranh chấp. Nhƣ vậy đƣợc xác định tranh chấp giữa ông S, bà H, ông L, bà Bé đối với bị đơn ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, và cho thuê quyền sử dụng đất.

Xét thấy yêu cầu của Hồ Văn L và bà Lê Thị B; ông Nguyễn Văn S và bà Tô Thị H yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất do các ông bà xác lập với vợ chồng ông Trần Bé E và yêu cầu ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả vàng lại cho các ông bà vàng cố đất là có cơ sở và phù hợp theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 106 Luâ ̣t đất đai 2003 đƣợc sƣ̃a đồi bổ sung 2009 và theo quy định tại Điều 179 Luâ ̣t đất đai 2013 quy đi ̣nh quyền và nghia vu ̣̃

hô ̣ gia đinh , cá nhân sử dụng đất có các quyền

̀

nhƣ sau:" Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã , phườ ng thị trấn với Hộ gia đình, cá nhân khác; chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy đi ̣nh của phá p luật ; cho tổ chứ c , hộ gia đinh, cá nhân khác, ngườ i Viê ̣t Nam đi ̣nh

̀

cư ở nướ c ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất ; cá nhân sử dụng đất có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất của mình thei di chúc hoặc theo pháp luật; tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằ ng quyền sử dụng đất..." vâ ̣y theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về đất đai không quy đi ̣nh cho ngƣờ i có quyền sƣ̉ du ̣ng đất có quyền cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất nhƣng trong quá trinh sƣ̉

̀ dụng đất bà Út và ông Bé E cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất vớ i ông L, ông S, ông H sau đó ông H cố lại cho ông S là vi phạm điều cấm của pháp luật nên đề nghị HĐXX tuyên bố hợp đồng (Giấy cầm đất) cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất giƣ̃a bà Nguyễn Thi ̣ Út và ông Trần Bé E xác lập ngày 01/4/1996; giấy cầm cố đất giữa ông Nguyễn Văn S và ông Trần B Em lập ngày 22 táng 5 năm 1996; giấy cố đất giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 01/4/1997; giấy cố đất (Canh tác) giữa ông Trần Bé E với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 28/4/96 và hợp đồng cố đất giữa ông Hồ Văn L và ông Trần Bé E xác lập ngày 01/4/1996 là vô hiệu toàn bộ và hủy bỏ là phù hợp quy định tại Điều 128 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣.

- Xét về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập”.

Diê ̣n tich đất mà ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B nhận cầm cố 05 công tầm 3

́ mét; ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H nhận cầm cố giữa ông bà E và bà Út và là 08 công tầm 3 mét; giữa ông S với ông H 05 công tầm 3 mé, sau đó ông S cho bà Đ chuộc lại 02 công đất tầm 03 mét, nhƣ vậy đến thời điểm năm 2001 thì ông S còn nhận cầm cố đất với ông Bé E, bà Útt là 11 công đất tầm 03 mét, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/9/2018 thì diện tích đất cầm cố là tƣơng đƣơng 21 công tầm 3 mét, trong đó phần đất cố ông L, bà B là 05 công tầm 3 mét, bằng 6.480 mét vuông, ông S 11 công tần 03 mét tƣơng đƣơng 27.544 mét vuông, trong số diện 56.130 mét vuông, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số001540/QSDĐ Ủy ban nhân dân huyện AM cấp cho ngƣời sử dụng Hộ ông bà Trần Bé E ngày 30/12/2003, tại ấp Thạnh Thuận, xã Đông Thạnh, huyê ̣n AM, hiê ̣n nay ông N và bà Võ Thị Út đang quản lý và sƣ̉ du ̣ng diện tích đất mà ông S, ông L tranh chấp trên (do ông Bé E thỏa thuận chuyển nhƣợng); Xét thấy do hợp đồng dân sƣ̣ giƣ̃a bà các ông bà xác lập bị vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đa nhâ ̣̃

n. Diê ̣n tich đất nêu trên thuô ̣c quyền sƣ̉ du ̣ng bà

́

ông Trần Bé E cầm cố với ông S, ông L thì ông Bé E đã nhận lại nên ông Nguyễn Văn Svà bà Tô Thị H, ông Hồ Văn L bà Lê Thị B không có nghĩa vụ trả lại đất cho ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út.

Buộc ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H 19 chỉ (Mười chín) vàng 24kra, vàng thƣờng, hoàn trả lại cho ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B 10 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng là phù hợp khoản 2 Điều 137 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣.

Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn S bà Tô Thị H đòi ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả 7.000.000đ tiền thuê đất, ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B đòi ông bé E và bà Út trả 30 giạ lúa thuê đất, quy ra thành tiền 3.600.000đ tiền cho thuê phần đất mà ông Bé E, bà Út cầm cố cho các ông bà. Tại phiên tòa hôm nay các ông có yêu cầu xin rút lại phần tiền cho thuê đất. Xét thấy yêu cầu của ông S, bà H và ông L nêu ra phù hợp quy đi ̣nh pháp luâ ̣t nên đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử phần rút yêu cầu của các đồng nguyên đơn.

Đối với khoản tiền mà ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út giao trả tiền thuê đất cho ông S, ông L đã nhận từ năm 2003 đến năm 2015 nhƣng ông Bé E và bà Út không yêu cầu đòi lại nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Đối với bà Phan Thị Đ đã trả 04 chỉ vàng cho ông S, bà H thay cho ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út; ông Nguyễn Tấn H nhận đất cầm cố đất của ông Bé E sau đó cố lại cho ông Nguyễn Văn S, ông S đã trả 10 chỉ vàng cố đất cho ông H nhận đủ; Ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út là ngƣời hiện nay đang sử dụng phần đất của ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út, ông Bé E và bà Út nhận vàng của ông N và bà Võ Thị Út giữa các ông bà không tranh chấp, nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Ngoài ra căn cứ vào Điều 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị HĐXX xem xét buộc ông Bé Em và bà Út phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Sau nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận định:

[1] Về mối quan hệ pháp luật: ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H, ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện AM hũy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, buộc ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út trả lại cho các ông bà vàng cầm cố đất và phải trả tiền thuê đất nên xác định là tranh chấp về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

[2] Về thẩm quyền: ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H, ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B yêu cầu Tòa án hũy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và buộc ông Bé E, bà Nguyễn Thị Út trả lại cho các ông bà số vàng nhận cố quyền sử dụng đất và tiền thuê đất là tranh chấp dân sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, bị đơn ông Bé E, bà Út cƣ trú tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyện AM, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án nhân dân huyện AM thụ lý vụ án giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Đ, ông Lê Minh N, bà Võ Thị Út, ông Nguyễn Tấn H biết và ấn định thời gian để các ông bà có ý kiến về việc khởi kiện của bà H, ông S, ông L và bà Lê Thị B đối với bị đơn ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út là ngƣời cầm cố quyền sử dụng đất, ông N và bà Võ Thị Út hiện nay là ngƣời đang quản lý phần đất cầm cố, bà Đ là ngƣời đứng ra trả vàng nhận lại phần đất mà ông Bé E cố cho ông S; ông H là ngƣời cầm cố quyền sử dụng đất lại với ông S để các ông bà thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, nhƣng các ông, bà không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đƣơng sự để tiếp cần, công khai chứng cứ và hòa giải, nhƣng bị đơn ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ, ông Nguyễn Tấn H vắng mặt nhiều lần không có lý do, mặc dù đã đƣợc tống đạt hợp lệ thông báo, nên Toà án quyết định đƣa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

[4] Xét về nội dung tranh chấp thấy rằng:

Ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H; ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B, ông Nguyễn Tấn H xác lập hợp đồng cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất vào các ngày 01/4/1996 (giữa ông L với ông Bé E), ngày 22 tháng 5 năm 1996 (giữa ông S với ông Bé E); ngày 28/4/1996 (giữa ông H với ông Bé E), cụ thể ông Bé E và bà Út cố đất cho ông S diện tích đất 08 công tầm 3 mét, cố cho ông H 05 công đất tầm 3 mét, cố cho ông L 05 công đất tầm 3 mét, thời hạn cố đất đối với ông S không quy định thời gian, giá cầm cố 08 công bằng 16 chỉ; cố cho ông Lợi 05 công bằng 10 chỉ vàng 24kra, cố cho ông Hân 05 công bằng 10 chỉ vàng 24kra, trong thờ i gian cầm cố đất thì bà Nguyễn Thị Út và ông Trần Bé E giao đất cho ông S, ông L, ông H sử dụng đến tháng 4 năm 1997 ông H không sử dụng đất cố mà H cố lại cho ông S nên ông S sử dụng đất của ông Bé E là 13 công đất tầm 3 mét, năm 2001 ông S cho bà Phan Thị Đ (mẹ ông Bé E) chuộc lại 02 công đất tầm 03 mét, còn lại ông S trực tiếp sử dụng 11 công đến năm 2003 ông vợ chồng ông Nguyễn Văn S, vợ chồng ông Hồ Văn L thỏa thuận cho vợ chồng ông Bé E thuê toàn bộ diện tích đất trên, vợ chồng ông Bé E sử dụng đất có trả tiền thuê hàng năm cho ông L, ông S đến năm 2015 thì không trả tiền thuê đất cho ông L, ông S mà thỏa thuận với ông N chuyển nhƣợng phần đất nên phát sinh tranh chấp. vợ chồng ông L, ông S có đơn yêu cầu đến Ban lãnh đạo ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyê ̣n An Minh giải quyết nhƣng ông Bé E không có mặt nên các ông bà khở i kiê ̣n yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể; ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B yêu cầu Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông L và ông Bé E, bà Út xác lập ngày 01/4/1996, buộc ông Bé E, bà Út trả lại cho ông 10 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng và lúa cho thuê đất 02 năm (2016 và 2017), bằng 30 giạ đƣợc quy ra thành tiền 3.600.000đ; vợ chồng ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H yêu cầu hũy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông và vợ chồng ông với ông Trần Bé E, và bà Nguyễn Thị Út xác lập ngày 22/5/1996, buô ̣c ông Bé E và bà Út hoàn trả lại cho vợ chồng ông S 19 (Mƣời chín) chỉ vàng 24kra,vàng thƣờng và tiền thuê đất 02 năm, số tiền là 7.000.000đ, tại biên bản ghi lời khai ngày 23/7/2018 ông Trần Bé E thừa nhận và đồng ý lại số vàng cho ông L, ông S và xác định diện tích đất cầm cố ông đã nhận lại nên không yêu cầu ông S, ông L trả lại đất. Đối với lúa thuê đất ông Bé E xác định đúng nhƣ yêu cầu của ông Lợi và ông S nhƣng ông chỉ đồng ý trả lúa thuê đất cho ông L, không đồng ý trả tiền thuê đất cho ông S vì lý do ông S đòi nhận đất cố lại để sản xuất nên ông giao nhƣng ông S không sử dụng và ông không sử dụng đƣợc nên ông không tiền trả theo yêu cầu của ông S. Xét thấy yêu cầu của Hồ Văn L và bà Lê Thị B và ông Nguyễn Văn S và bà Tô Thị H đòi ông Bé E bà bà Nguyễn Thị Út trả lại số vàng cầm cố là phù hợp vì theo quy định tại Điều 106 Luâ ̣t đất đai 2003 đƣợc sƣ̃a đồi bổ sung 2009 và tại Điều 179 Luâ ̣t đất đai 2013 quy đi ̣nh quyền và nghia vu ̣̃

hô ̣ gia đinh, cá nhân sử dụng đất có các quyền

̀

nhƣ sau:" Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiê ̣p trong cù ng một xã , phường thị trấn với Hộ gia đình, cá nhân khác; chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy đi ̣nh của phá p luật ; cho tổ chứ c , hộ gia đinh, cá nhân khác, ngườ i Viê ̣t Nam đi ̣nh

̀

cư ở nướ c ngoà i đầu tư tại Viê ̣t Nam thuê quyền sử dụng đất; cá nhân sử dụng đất có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất của mình thei di chúc hoặc theo pháp luật; tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất..." vâ ̣y theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về đất đai không quy đi ̣nh cho ngƣờ i có quyền sƣ̉ du ̣ng đất có quyền cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất nhƣng trong quá trinh sƣ̉

̀ dụng đất bà Út và ông Bé E cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất vớ i ông L, ông S, ông H là vi pha ̣m điều cấm của pháp luâ ̣t nên HĐXX cần tuyên bố hợp đồng (Giấy cầm đất) cầm cố quyền sƣ̉ du ̣ng đất giƣ̃a bà Nguyễn Thi ̣ Út và ông Trần Bé E xác lập ngày 01/4/1996 và giấy cầm cố đất giữa ông Nguyễn Văn S và ông Trần Bé E lập ngày 22 táng 5 năm 1996; giấy cố đất giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 01/4/1997; giấy cố đất (Canh tác) giữa ông Trần Bé E với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 28/4/96 là vô hiệu toàn bộ và hủy bỏ là phù hợp quy đi ̣nh tại Điều 128 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣.

[5] Xét về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật dân sự quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập” .

Diê ̣n tich cần cố 16 công tầm 3 mét, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ

́ ngày 18/9/2018 thì đƣợc giới hạn bởi các cạnh 1+2+8 = 84,90 mét (giáp kênh Ba Giáp, trong đó có phần đất của của ông L 36 mét của ông S 48.9 mét; Cạch 8+3+4 = 352,30 mét (giáp đất ông Trần Bé E), trong đó có phần đất cố cho ông L 180 mét, cố cho ông S 272,3 mét; cạnh 4+5 = 71,6 mét (giáp đất ông Bé E) phần đất cố cho ông S; Cạnh 5+7+1 = 352,3 mét đất cố cho ông S (giáp đất ông Lê Điền Anh), tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyê ̣n AM đất thuô ̣c quyền sƣ̉ du ̣ng của Hộ ông Trần Bé E hiê ̣n nay ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út đa nhâ ̣̃

n lại giao cho vợ chồng ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út sử dụng nhƣng ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út chƣa trả vàng lại cho vợ chồng ông Hồ Văn L 10 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng, của vợ chồng ông Nguyễn Văn S 19 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng. Xét thấy do hợp đồng dân sƣ̣ giƣ̃a bà các ông bà xác lập bị vô hiệu thì phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nên Buộc ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thi ̣ Út trả lại cho ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H 19 chỉ (Mười chín) vàng 24kra, vàng thƣờng, hoàn trả lại cho ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B 10 chỉ vàng 24kra, vàng thƣờng là phù hợp khoản 2 Điều 137 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣.

Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn S bà Tô Thị H đòi ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả 7.000.000đ tiền thuê đất, ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B đòi ông Bé E và bà Út trả 30 giạ lúa thuê đất, quy ra thành tiền 3.600.000đ là tiền cho thuê đất cố trên. Tại phiên tòa ông Hồ Văn L và ông L ngƣời đại diện của bà B, ông S và bà H xin rút yêu cầu đòi tiền cho thuê đất; Xét thấy yêu cầu của ông S, bà H và ông L là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật , không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận đình chỉ xét xử phần rút yêu cầu khởi kiện của ông S, bà H, ông L và bà B đòi tiền cho ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út .

Đối với ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út giao tiền thuê đất cho ông S, ông L đã nhận từ năm 2003 đến năm 2015 nhƣng ông Bé E và bà Út không tranh chấp, nên không xem xét.

Đối với bà Phan Thị Đ đã trả 04 chỉ vàng cho ông S, bà H thay cho ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út; ông Nguyễn Tấn H nhận cầm cố đất của ông Bé E sau đó thỏa thuận cố lại cho ông Nguyễn Văn S, ông S đã trả 10 chỉ vàng cố đất cho ông H nhận đủ; ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út là ngƣời hiện nay đang sử dụng phần đất của ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út, ông Bé E và bà Út có nhận vàng của ông N và bà Võ Thị Út những giữa các ông bà không tranh chấp, nên không xem xét.

[6] Về án phí: căn cứ vào Điều 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc ông Bé E và bà Út phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn ông S, bà H, Hồ Văn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại số tiền cho ông S, bà B 600.000đ mà ông bà tạm nộp theo biên lai số 0000465 ngày 06/10/2017 của Chi, trả lại ông Hồ Văn L, bà Lê Thị B 300.000 án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0000466 ngày 06/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện AM.

[7] Về chi phí xem xét thẩm định: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông Hồ Văn L, ông Ngyễn Văn S mỗi ông phải chịu 500.000đ x 2 bằng 1.000.000đ, phần này các ông đã nộp xong.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH;

- Áp dụng các Điều 26, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 127, Điều 128, Điều 137 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣ 2005; Điều 106 luật đất đai năm 2003 và đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009, Điều 179 luâ ̣t đất đai 2013 ; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 và Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố: Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữ a bà Nguyễn Thi ̣ U và ông Trần Bé E xác lập ngày 01/4/1996 và giấy cầm cố đất giữa ông Nguyễn Văn S và ông Trần Bé E lập ngày 22 tháng 5 năm 1996; giấy cố đất giữa ông Nguyễn Văn S với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 01/4/1997; giấy cố đất (canh tác) giữa ông Trần Bé E với ông Nguyễn Tấn H lập ngày 28/4/96 là vô hiê ̣u toàn bô ̣ và hủy bỏ.

Diê ̣n tich cầm cố 16 công tầm 3 mét, theo biên bản xem xét thẩm định tại

́ chỗ ngày 18/9/2018 thì phần đất đƣợc giới hạn bởi các cạnh:

Phần đất cố cho ông Hồ Văn L diện tích 6.480 mét vuông,

Cạnh 2 + 8 = 36 mét (giáp đất ông Bé E hƣớng Kênh Ba Giap; cạnh 8 + 3 = 180 mét (giáp đất ông Bé E); cạnh 3 + 6 = 36 mét (giáp đất ông Bé E cố cho ông S); 6 + 2 = 180 mét ( giáp đất ông Bé E cố cho ông S).

Phần đất cố cho ông S diện tích 21.064 mét vuông,

Cạnh 3 + 4 = 272,3 mét (giáp đất ông Bé Em); Cạch 4 + 5 giáp đất ông Bé E = 71,60 mét (giáp đất ông Trần Bé E), Cạnh 5 + 7 +1 = 352,30 mét (giáp đất ông Bé Điền Anh); Cạnh 2 + 6 = 180 mét (giáp đất ông Bé E cố cho ông L), Cạnh 6 + 3 = 36 mét (giáp đất ông Bé E cố cho ông L) tất cả diện tích đất trên tại ấp Thạnh Thuận, xã Tân Thạnh, huyê ̣n AM thuô ̣c quyền sƣ̉ du ̣ng của Hộ ông Trần Bé Em, hiê ̣n nay vợ chồng ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út sử dụng.

[2] Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của ông S, bà H, ông L và bà Bé đòi ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út trả tiền thuê đất.

[3] Đối với ông Trần Bé E, bà Nguyễn Thị Út giao tiền thuê đất cho ông Sh, ông L đã nhận từ năm 2003 đến năm 2015 nhƣng ông Bé Em và bà Út không yêu cầu, nên không xem xét.

[4] Đối với bà Phan Thị Đ đã trả 04 chỉ vàng cho ông S, bà H thay cho ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út; Ông Lê Minh N và bà Võ Thị Út là ngƣời hiện nay đang sử dụng phần đất của ông Bé E và bà Nguyễn Thị Út, bà Phan Thị Đ nhận lại từ ông S, bà H 02 công đất tầm 03 mét, bà trả cho ông S 04 chỉ vàng 24kra, ông H là ngƣời nhận cố đất với ông Bé E, bà Út sau đó ông H cố lại cho ông S, ông S trả 10 chỉ vàng cho ông H nhƣng giữa các ông bà không tranh chấp, nên không xem xét.

[5] Về án phí: buộc ông Trần Bé E và bà Nguyễn Thị Út phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Tô Thị H; ông Hồ Văn L và bà Lê Thị B không phải chịu án phí, trả lại số tiền 600.000đ mà ông S, bà H tạm nộp theo biên lai số 0000465 ngày 06/10/2017, trả lại ông Hồ Văn L, bà Lê Thị B phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0000466 ngày 06/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh.

[6] Về chi phí xem xét thẩm định: buộc ông Hồ Văn L, ông Ngyễn Văn S tự nguyện chịu mỗi ông phải chịu 500.000đ x 2 bằng 1.000.000đ, phần này các ông đã nộp xong.

[7] Báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông Hồ Văn L và là ngƣời đại diện của bà B, ông Nguyễn Văn S, bà Tô Thị H có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm (30/11/2018)

Các đƣơng sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày bản chính của bản án này tống đạt theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ