- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Công ty tài chính TNHH MTV N đối với ông Nguyễn Hoàng V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2018/DS-ST Ngày: 16-11-2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thuận và bà Lê Thị Nhớ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- i di n Vi n ki m sát nhân dân u n Thanh Khê, thành phố à Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2018/TLST-DS ngày 20/8/2018 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2018/QĐXXST-DS ngày 10/10/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2018/QĐST-DS ngày 29/10/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV N. Trụ sở: Tầng 2, tòa nhà R, số 9 đường Đ, phường M, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông L, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Ngọc T1 - Sinh năm 1997 - Địa chỉ: Số 353 đường P, quận C, thành phố Đà Nẵng (Văn bản ủy quyền số: 80/UQ-VH.18 ngày 13/6/2018 của Chủ tịch Hội đồng thành viên và Văn bản ủy quyền số 3564/UQTA-VH.18 ngày 25/7/2018 của Trưởng nhóm Tố tụng - Phòng Thu hồi nợ pháp lý - Trung tâm thu hồi nợ - Công ty tài chính TNHH MTV N. (Ông T có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Số 63 đường H, phường T2, quận K, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 17/8/2018, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/10/2016, Công ty tài chính TNHH MTV N (gọi tắt là Công ty tài chính) và ông Nguyễn Hoàng V ký kết Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20161007-500000-5818. Theo thỏa thuận, Công ty tài chính cho ông V vay số tiền 58.799.870đ với lãi suất 3,33%/tháng để tiêu dùng cá nhân, ông Nguyễn Hoàng V có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính số tiền 101.836.000đ (gồm cả lãi và gốc) trong vòng 36 tháng với phương thức: 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.829.000đ, tháng 36 trả 2.821.000đ. Thực hiện hợp đồng, ông V đã nhận đủ số tiền vay và thanh toán được số tiền 5.682.000đ. Kể từ ngày 09/12/2016, ông Nguyễn Hoàng V không thanh toán bất cứ khoản tiền nào dù Công ty đã dùng nhiều đôn đốc, nhắc nhở.
Căn cứ theo điểm 6.2 Điều 6 của Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên, nay Công ty tài chính yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hoàng V phải thanh toán ngay cho công ty toàn bộ số tiền: 96.154.000đ, trong đó: nợ gốc là 57.032.895đ; tiền lãi tính đến ngày 11/10/2019 là 39.121.105đ.
Kể từ ngày 12/10/2019, trường hợp ông V không thanh toán hết nợ thì yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trên tổng số tiền chưa thanh toán.
*Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không có ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên đã vi phạm quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 463, 466, 468, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV N đối với ông Nguyễn Hoàng V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
*Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V có địa chỉ tại số đường H, phường T2, quận K, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Hoàng V tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông V vẫn vắng mặt không có lý do theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Hoàng V.
*Về nội dung vụ án:
Về Hợp đồng tín dụng số 20161007-500000-5818 ngày 07/10/2016 ký kết giữa Công ty tài chính và ông Nguyễn Hoàng V: hợp đồng được ký kết đã tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong các giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.
Xét yêu khởi kiện cụ thể của nguyên đơn thấy rằng:
Theo “Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20161007-500000-5818 ngày 07/10/2016, Công ty tài chính TNHH MTV N đã cho ông Nguyễn Hoàng V vay số tiền 46.681.647đ với mức lãi suất 3.33%/tháng, phương thức trả theo phân kỳ trong 36 tháng với tổng số tiền phải trả là 101.836.000đ. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hoàng V không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả lãi và gốc, vi phạm định kỳ trả nợ quy định tại hợp đồng đã ký kết. Công ty tài chính đã nhiều lần yêu cầu ông V trả nợ nhưng đến nay bị đơn vẫn không trả được. Xét thấy việc không trả nợ của bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết do vậy yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc, nợ lãi và yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày 12/10/2019 trên số tiền ông Nguyễn Hoàng V chưa thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV N theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự của nguyên đơn phù hợp với quy định tại mục 6.2 Điều 6 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng” số 20161007-500000-5818 ngày 07/10/2016 ký kết giữa các bên và Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tham gia phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án và điều luật áp dụng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc ông Nguyễn Hoàng V phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV N số tiền 96.154.000đ, trong đó: nợ gốc là 57.032.895đ; tiền lãi tính đến ngày 11/10/2019 là 39.121.105đ. Từ ngày 12/10/2019 đến khi thi hành án xong, trường hợp Công ty tài chính TNHH MTV N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Nguyễn Hoàng V phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền còn phải thi hành án.
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, mức án phí cụ thể là: 96.154.000đ x 5% = 4.807.700đ. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466, 468, điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Công ty tài chính TNHH MTV N đối với ông Nguyễn Hoàng V.
Xử:
1. Buộc ông Nguyễn Hoàng V phải trả cho Công ty tài chính TNHH MTV N số tiền là 96.154.000đ (Chín mươi sáu triệu một trăm năm mươi bốn ngàn đồng), trong đó: nợ gốc là 57.032.895đ; tiền lãi tính đến ngày 11/10/2019 là 39.121.105đ.
Từ ngày 12/10/2019 đến khi thi hành án xong, trường hợp Công ty tài chính TNHH MTV N có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Nguyễn Hoàng V phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền còn phải thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: 4.807.700đ (Bốn triệu tám trăm lẻ bảy ngàn bảy trăm đồng) ông Nguyễn Hoàng V phải chịu.
Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH MTV N số tiền tạm ứng án phí 2.403.850đ đã nộp theo biên lai thu số 4084 ngày 17/8/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nh n:
| - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Thanh Khê; - Chi cục THADS q.Thanh Khê; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) DƯƠNG THỊ THÁI |