- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giang Văn T phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Giang Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2017/HSST Ngày: 31/8/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Đức
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Hiệp.
Ông Nguyễn Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đô.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Giang Văn T (Tên gọi khác: Bình), sinh năm 1958 tại Cà Mau.
Nơi đăng ký HKTT: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh
Tôn giáo: không.
Trình độ học vấn: 01/12
Nghề nghiệp: Buôn bán.
Con ông Giang Lợi D (chết ) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1924.
Gia đình bị cáo có 7 anh, chị em. Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình.
Có vợ tên Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979 đã ly hôn, có 7 con (1986 – 2012).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại.
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 14 giờ 45 phút ngày 21/4/2017, Giang Văn T ở cửa hàng tạp hóa tại ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thì có Trương Công P đến mua số đề. T ghi các chữ số theo yêu cầu với số tiền 840.000 đồng, P trả tiền và nhận phơi đề từ T sau đó đi về nhà.
Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, P đi với Đỗ Danh Khải H đến chỗ T để ghi đề tiếp. T ghi đề các chữ số theo yêu cầu của P vào 3 tờ phơi với tổng số tiền 3.080.000 đồng, P trả tiền và nhận phơi đề. Tiếp đến H vào ghi đề với số tiền 1.380.000 đồng. Các bên đang giao phơi đề thì bị Công huyện Vĩnh Cửu bắt quả tang.
Tang vật thu giữ:
- 01 cuốn vở không bìa trong đó có 5 trang ghi chữ số.
- 04 mảnh giấy có kích thước 4,5cm x 5,5cm; 4,5cm x 8,5cm; 6,5cm x 13,5cm; 4,5cm x 8,5cm thu của Giang Văn T có ghi đề các chữ số cụ thể như sau:
+ Tờ giấy 4,5cm x 5,5cm có ghi các chữ số đầu dãy là 786-1 đến cuối dãy 46 x 51-0.5 số tiền: 140.000 đồng là của Lâm Thị N, sinh năm 1956 trú ấp 5, xã T tự ghi giao cho T ghi đề ngày 21/4/2017.
+ Tờ giấy 4,5cm x 8,5cm có ghi các chữ số đầu dãy là 39 x 79-0,5 đến cuối dãy 89-2 số tiền: 168.000 đồng là của Lâm Thị N, sinh năm 1956 trú ấp 5, xã T tự ghi giao cho T ghi đề ngày 21/4/2017.
+ Tờ giấy 6,5cm x 13,5cm có ghi các chữ số đầu dãy là 5-45-85-0,5 đến cuối dãy 18, 24, 39, 79, TP 18/3 (186) số tiền ghi đề: 186.000 đồng ngày 18/3/2017 T không nhớ của ai.
+ Tờ giấy 4,5cm x 8,5cm có ghi các chữ số đầu dãy là BD-21.4.17 đến cuối dãy 23-120-120 số tiền ghi đề: 1.420.000 đồng ngày 21/4/2017 đây là phơi đề T đang ghi cho Đỗ Danh Khải H thì bị bắt quả tang.
- Số tiền: 4.672.000 đồng, 01 điện thoại Nokia 5130C-2, màu đỏ - đen; 01 máy tính Casio 399, màu đen - bạc.
- Thu trong ngăn kéo tủ sắt nơi Giang Văn T ngồi số tiền 8.600.000 đồng.
- Thu trong người Trương Công P 04 mảnh giấy kích thước: 4,5cm x 5,7cm; 4,2 cm x 3,7cm; 4,2cm x 4,7cm; 4,5cm x 5,5cm có ghi các chữ số.
+ Tờ giấy 4,5cm x 5,7cm có ghi các chữ số đầu dãy là BD-21.4.17 đến cuối dãy 53-10; 840 số tiền ghi đề: 840.000 đồng ngày 21/4/2017.
+ Tờ giấy 4,2cm x 3,7cm có ghi các chữ số đầu dãy là BD-21.4.17 đến cuối dãy 10-Đ; 560 số tiền ghi đề: 560.000 đồng ngày 21/4/2017.
+ Tờ giấy 4,3cm x 4,7cm có ghi các chữ số đầu dãy là 19-10 đến cuối dãy 19 + 59 + 39 - 5 có số tiền ghi đề: 840.000 đồng.
+ Tờ giấy 4,5cm x 5,5cm đầu dãy là BD-21.4.17 đến cuối dãy 57+ 28 - 33 -10 số tiền ghi đề: 1.680.000 đồng ngày 21/4/2017.
Căn cứ cuốn vở học sinh không bìa ghi tờ 1, 2, 3 Giang Văn T khai sau khi ghi đề giao phơi cho các đối tượng mua đề, T ghi số vào cuốn vở trên để theo dõi, 02 trang cuối là tiền bán tạp hóa. Cụ thể:
* Tờ 1 ghi 5 cột ngày 21/4/2017 với số tiền 2.740.000 đồng, trong đó:
- Cột 1 là 260.000 đồng.
- Cột 2 là 540.000 đồng.
- Cột 3 là 196.000 đồng.
- Cột 4 là 910.000 đồng.
- Cột 5 là 924.000 đồng, T không nhớ tên và địa chỉ của người ghi.
* Tờ 2 ghi 5 cột ngày 21/4/2017 với số tiền 9.110.000 đồng, trong đó:
- Cột 1 số tiền ghi đề là 348.000 đồng;
- Cột 2 số tiền ghi đề là 3.080.000 đồng trong đó, ghi cho Trương Công P, Lâm Thị N 154.000 đồng và Phạm Văn Q, sinh năm 1967 ngụ ấp 5, xã T, huyện V với số tiền 1.400.000 đồng.
- Cột 3 số tiền ghi đề là 224.000 đồng trong đó có Lâm Thị N.
- Cột 4 có số tiền ghi đề là 1.540.000 đồng là ghi cho Trương Công P.
- Cột 5 có số tiền 3.976.000 đồng. Trong đó có ghi cho Trương Công P và Lâm Thị N.
* Tờ 3 ghi 3 cột, trong đó:
- Cột 1 số tiền ghi đề là 294.000 đồng.
- Cột 2 số tiền ghi đề là 210.000 đồng.
- Cột 3 số tiền ghi đề là 112.000 đồng.
Ngoài số tiền ghi đề trong cuốn vở học sinh cho Lâm Thị N, Phạm Văn Q, còn lại số đề Giang Văn T ghi cho những người không biết tên và địa chỉ, nên không có căn cứ xác định hậu quả đánh bạc.
Trương Công P khai nhận ghi đề ngày 21/4/2017 của Giang Văn T với số tiền: 3.920.000 đồng.
Đỗ Danh Khải H khai nhận ghi đề ngày 21/4/2017 của Giang Văn T với sốtiền: 1.420.000 đồng.
Lâm Thị N khai nhận ghi đề ngày 21/4/2017 của Giang Văn T với số tiền: 308.000 đồng.
Phạm Văn Q khai nhận ngày 21/4/2017, Q sử dụng điện thoại gọi đến Giang Văn T đánh số 11 bao lô 100.000 đồng với tổng số tiền: 1.400.000 đồng. Điện thoại Q sử dụng đã bị mất không thu đươc.
Số tiền ghi đề Giang Văn T giao lại cho Phạm Quang H, sinh năm 1961 trú ấp 1, xã T để hưởng hoa hồng 8% trên tổng số tiền ghi được. Phạm Quang H không thừa nhận, chỉ có lời khai của Giang Văn T, không có tài liệu khác nên không đủ chứng cứ chứng minh H là chủ thầu đề.
Cách thức đánh đề: Trước khi đài xổ số kiến thiết trong ngày mở xổ số, các con bạc (người đánh đề) lựa chọn các con số theo ý thích (số đề) và cá cược tiền trên con số đã chọn để so sánh với các con số trên lô xổ số. Sau đó người ghi đề viết các con số đề bằng phơi đề giấy và đưa cho khách. Sau khi đài xổ số kiến thiết trong ngày mở xổ số, nếu các con số đề mà khách đã ghi trùng với con số trên đài xổ số kiến thiết thì con bạc thắng bạc, người ghi đề thua bạc và trả tiền thắng cá cược cho người đánh đề. Ngược lại thì con bạc thua bạc theo số tiền đã sử dụng cá cược số đề. Việc ăn thua bạc với con bạc theo tỷ lệ như sau: Đánh đề hình thức đầu đuôi, bao lô tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 70 lần, số đá tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 700 lần.
Hành vi đánh bạc của Trương Công P, Đỗ Danh Khải H, Lâm Thị N, Phạm Văn Q dưới 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính.
Tại cáo trạng số 43/CT/VKS-HS ngày 10/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu để xét xử bị cáo Giang Văn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Giang Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức “Ghi đề” với Trương Công P, Đỗ Danh Khải H, Lâm Thị N, Phạm Văn Q với số tiền tham gia đánh bạc là 7.048.000 đồng. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Giang Văn T về tội “Đánh bạc”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Giang Văn T bằng hình thức phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng.
Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu sung công: Số tiền 7.048.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 5130C - 2, màu đỏ - đen; 01 máy tính Casio 399, màu đen - bạc là những vật chứng liên quan đến việc đánh bạc.
- Trả lại cho bị cáo Giang Văn T số tiền 6.224.000 đồng.
Bị cáo Giang Văn T nói lời sau cùng xin được hưởng hình phạt nhẹ vì bị cáo nhất thời tham tiền để có tiền nuôi con nhỏ nên đã vi phạm pháp luật.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 45 phút đến 15 giờ 40 phút ngày 21/4/2017, tại cửa hàng tạp hóa tại ấp 5, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Giang Văn T tham gia đánh bạc bằng hình thức “Ghi đề” với Trương Công P, Đỗ Danh Khải H, Lâm Thị N, Phạm Văn Q với số tiền tham gia đánh bạc là 7.048.000 đồng. Tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, cũng như tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận hành vi ghi số đề cũng như số tiền sử dụng vào việc đánh bạc đúng như Cáo trạng đã nêu.
Hành vi của bị cáo Giang Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước, gây mất ổn định tại địa phương, nên cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo, răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Bị cáo Giang Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng theo quy định tại điểm h, p khoản 1, Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.
Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo Giang Văn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt bằng tiền cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Đối với hành vi đánh bạc của Trương Công P, Đỗ Danh Khải H, Lâm Thị N, Phạm Văn Q dưới 5.000.000 đồng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc” nên chưa đủ yếu tố cầu thành tội “Đánh bạc” theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 109/2015/QH ngày 27/11/2015 của Quốc hội, Cơ quan điều tra đã xử lý hành chính.
Đối với lời trình bày của bị cáo Giang Văn T về việc bị cáo giao lại số tiền ghi đề cho Phạm Quang H, sinh năm 1961 trú ấp 1, xã Thạnh Phú để hưởng hoa hồng 8% trên tổng số tiền ghi được. Tuy nhiên, Phạm Quang H không thừa nhận, không có tài liệu khác nên không đủ chứng cứ chứng minh H là chủ thầu đề. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan công an thu giữ số tiền 7.048.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 5130C-2, màu đỏ - đen; 01 máy tính Casio 399, màu đen - bạc là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
- Trả lại cho bị cáo Giang Văn T số tiền 6.224.000 đồng tiền bán tạp hóa không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Giang Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 30 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Giang Văn T số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng)
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.048.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 5130C - 2, màu đỏ - đen; 01 máy tính Casio 399, màu đen - bạc.
- Trả lại cho bị cáo Giang Văn T số tiền 6.224.000 đồng.
(Số tiền tịch thu sung công và số tiền trả lại cho bị cáo theo biên lai thu số 0001865 ngày 11/7/2017 (số tiền 13.272.000đ) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).
(Các tài sản trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Giang Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Giang Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKS tỉnh; - VKS huyện; - Sở tư pháp; - THA huyện; - Bị cáo; - Lưu Hs, Vp. Các hội thẩm nhân dân Nguyễn Ngọc Hiệp Nguyễn Ngọc Anh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Trần Anh Đức Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Anh Đức |