vanban.org

Bản án 47/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 14/07/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 07/4/2017. Biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoàng N "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 140 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2017/HSST
Ngày 14-7-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc An.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Khắc Hòa;

2. Bà Trần Thị Bạch Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Kính, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2017 tại khu vực lễ hội thuộc khu phố 6 thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2017/HSST ngày 31/5/2017 theo Quyết định xét xử số: 46/2017/QĐXXST-HS ngày 03 tháng7 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Hoàng N, sinh ngày 1994 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; số CMND: 29107474; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; con ông Phạm Văn D và bà Nguyễn Thị Y; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Có một tiền sự ngày 09/12/2014, Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 11/QĐ-XPVPHC xử phạt Phạm Hoàng N 4.000.000 đồng về hành vi “gây rối trật tự công cộng mà có mang theo vũ khí thô sơ”, chưa đóng tiền phạt, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; tiền án: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 07/4/2017 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Chị Lại Thị Thanh H, sinh năm 1974, nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh tụng tại phiên Tòa, nội dung vụ vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hoàng N và chị Lại Thị Thanh H là bà con với nhau. Vào khoảng 21 giờ ngày 01/9/2016, chị H đưa cho N 500.000 đồng và giao xe mô tô hiệu Novou LX, biển số 70H1-046.86 để N đi chuộc lại điện thoại mà chị H đã nhờ N cầm cố trước đó tại cửa hàng điện thoại “Tài Lộc” thuộc khu phố 3, thị trấn V, huyện B, tỉnh Tây Ninh, N đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đến cửa hàng điện thoại “Tài Lộc” gặp anh Nguyễn Hữu B (chủ tiệm) nhưng không chuộc được do thiếu tiền. Lúc này, N ra về thì gặp người bạn tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) rủ sang casino bên Camphuchia để đánh bạc và sử dụng ma túy, N đồng ý và cùng T đi bằng đường tiểu ngạch sang Campuchia. Do N không có tiền nên nhờ T cầm xe mô tô hiệu Novou LX, biển số 70H1-046.86 được 4.000.000 đồng. N dùng số tiền cầm cố xe và 500.000 đồng vào việc đánh bạc và mua ma túy sử dụng hết. Đến ngày 02/9/2016, N đi về và trốn tại thành phố N, tỉnh Tây Ninh. Ngày 04/9/2016, chị Lại Thị Thanh H làm đơn tố cáo hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của N. Ngày 08/9/2016, chị H sang casino ở Campuchia chuộc lại xe trên với số tiền 5.600.000 đồng.

* Kết luận số 09/KL-HĐĐG ngày 20/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 xe mô tô Novou LX, màu đỏ - đen, biển số 70H1-046.86 có giá thị trường là 24.500.000 đồng.

* Bồi thường thiệt hại: chị Lại Thị Thanh H yêu cầu bồi thường số tiền 6.100.000 đồng. Hiện N chưa bồi thường.

* Kê biên tài sản: Qua xác minh, Phạm Hoàng N không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B không tiến hành kê biên.

* Đối với người tên T chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Bản cáo trạng số 46/QĐ/KSĐT ngày 30/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Phạm Hoàng N về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Phạm Hoàng N bồi thường cho bị hại Lại Thị Thanh H 6.100.000 đồng.

Bị cáo Phạm Hoàng N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được về nhà chăm lo cha, mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào khoảng 21 giờ ngày 01/9/2016 tại ấp S, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh, lợi dụng sự tin tưởng của người thân chị Lại Thị Thanh H nhờ bị cáo bị cáo Phạm Hoàng N đi chuộc điện thoại đang cầm cố tại cửa hàng “Tài Lộc” thuộc khu phố 3, thị trấn V, huyện B, tỉnh Tây Ninh, sau khi nhận tài sản gồm 500.000 đồng và một xe mô tô hiệu Nouvo LX, biển số 70H1-046.86 trị giá 24.500.000 đồng, bị cáo N đã đem xe mô tô sang Campuchia cầm cố với số tiền 4.000.000 đồng cùng 500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, mua ma túy sử dụng hết nên không có khả năng trả lại tài sản cho chị H. Tổng giá trị tài sản bị cáo Phạm Hoàng N đã chiếm đoạt là 25.000.000 đồng, hành vi của bị cáo Phạm Hoàng N có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 140 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Phạm Hoàng N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị H được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Phạm Hoàng N có 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng mà có mang theo vũ khí thô sơ, bị cáo chưa chấp hành xong Quyết định nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo nhằm bảo vệ tài sản của công dân và phục vụ cho công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

* Đối với người tên Thông chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về biện pháp tư pháp:

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Lại Thị Thanh H yêu cầu bị cáo Phạm Hoàng N bồi thường 6.100.000 đồng, bị cáo N đồng ý bồi thường nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Ghi nhận chị Lại Thị Thanh H đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Nouvo LX, biển số 70H1-046.86.

Về án phí: Bị cáo Phạm Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 305.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 140; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 07/4/2017.

2. Biện pháp tư pháp:

* Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự:

- Buộc bị cáo Phạm Hoàng N bồi thường cho bị hại chị Lại Thị Thanh H số tiền 6.100.000 (sáu triệu, một trăm nghìn) đồng.

- Kể từ ngày chị Lại Thị Thanh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Phạm Hoàng N không chịu trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo N còn phải trả cho chị H số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Ghi nhận chị Lại Thị Thanh H đã nhận lại 01 xe mô tô hiệu Nouvo LX, biển số 70H1-046.86.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Hoàng N chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 305.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ