- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn DH và đồng bọn - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyªn bè: Các bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 69 Luật Thi hành án hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH PHÚ THỌ __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 47/2017/HS-ST Ngµy: 07/8/2017 |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH PHÚ THỌ
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Nguyễn Đăng Trình;
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: ¤ng Nguyễn Tiến Dũng;
Bà Đặng Thị Thu Hương.
Th ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Ông Lê Đức Xiêm - C¸n bé Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn L, tØnh Phó Thä;
§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn L tham gia phiªn toµ: Bµ Nguyễn Thị Ngọc Lệ - KiÓm s¸t viªn.
Ngµy 07/8/2017, t¹i trô Tòa án nhân dân huyÖn L, tØnh Phó Thä tiÕn hµnh xÐt xö c«ng khai vô ¸n h×nh sù s¬ thÈm thô lý sè: 55/2017/TLST-HS ngày 19/7/2017, ®èi víi các bÞ c¸o:
1. Họ và tên: Tạ Văn DN, sinh ngày 26/7/1990;
Tên gọi khác: Không;
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
Trình độ văn hóa: 6/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Tạ Văn L, sinh năm 1966;
Mẹ đẻ: Hoàng Thị Ph, sinh năm 1964;
Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Tại bản án số: 39/2009/HS-ST ngày 24/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 03 tháng 14 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Tại bản án số: 138/2010/HS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2010 của Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt chính, án phí ngày 02/10/2013.
Bị cáo bị bắt ta ̣m giam từ ngày 31/5/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 20/10/1989;
Tên gọi khác: Chọi;
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 14, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ;
Trình độ văn hóa: 12/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Bố đẻ: Nguyễn Tiến S, sinh năm 1959;
Mẹ đẻ: Đỗ Thị Tuyết Th, sinh năm 1961;
Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Tạm giữ, tạm giam: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện tại ngoại tại địa phương.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Anh Hà Quang V, sinh năm 1986;
Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang.
Tạm trú: Khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1959;
Trú tại: Khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/10/2016, tại phòng thuê trọ thuộc Khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ của Lương Thị Thu Tr, sinh năm 1985, đăng ký hộ khẩu: Khu 8, xã Ph, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tr cùng Trương Xuân Th, sinh năm: 1994, ĐKHK: Bản Bùn 2, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Đào Mạnh H, sinh năm 1988, ĐKHK: Khu 5, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Thị L, sinh năm 1987, ĐKHK: Xã K, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Hà Quang V, sinh năm 1987, ĐKHK: Thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang cùng ngồi ăn cơm, uống rượu. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, ở Khu 14, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ cùng Tạ Văn DN, sinh năm 1990, ở xã Th, thành phố V, tỉnh Phú Thọ chở nhau bằng xe mô tô đến khu nhà trọ. Khi nhìn thấy D và DN, do quen biết từ trước với D nên Đào Mạnh H mời D và DN vào phòng trọ của Tr cùng ăn cơm, uống rượu. Cả nhóm ăn uống đến khoảng 22 giờ cùng ngày, thì cùng nhau đến quán karaoke Giang Sơn thuộc khu 13, thị trấn H để hát karaoke. Nhóm Tr, Th, H, L, V, D và DN được chủ quán là ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm 1959, ở khu 13, thị trấn H sắp xếp vào hát tại phòng VIP2 của quán. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, Trần Quốc Trn, sinh năm 1989, ở khu 10, xã P, huyện H đến quán, vào phòng VIP2 hát cùng cả nhóm. Trong quá trình hát Tr, Th, H, L, V, D, DN và Trn uống bia chai Hà Nội loại 450 ml để sẵn trong phòng hát. Hát đến khoảng 23 giờ cùng ngày Th và Trn ra khỏi phòng ngồi uống nước ở bàn uống nước của quán. Lúc này, D đến ngồi cạnh và mời V uống bia, D và V chạm cốc, D uống hết cốc bia của mình nhưng V không uống, D nói với V: “Anh thế nào không uống, anh khinh em à”, V nói: “Tao không thích uống”, D hỏi: “Thế ý anh thế nào?”, V nói: “Tao thế đéo nào cũng được”. Do V nói vậy D bực tức, D lại gần chỗ DN và nói với DN: “Anh ơi, thằng này nó lệch em, nó thích đánh nhau” và chỉ tay về phía V, D nói vậy nhằm mục đích để DN đến đánh cảnh cáo V. Nghe D nói vậy, DN hiểu ý của D muốn rủ DN đánh V. DN cầm 01 vỏ chai bia Hà Nội loại 450 ml (bằng thủy tinh), đi đến cách V khoảng 3m, ném vỏ chai về phía V nhưng không trúng làm vỏ chai bia rơi, vỡ trên nền phòng hát. V cầm 01 cốc nhựa trên mặt bàn ném về phía DN nhưng không trúng. D đi đến đứng trước mặt V dùng tay trái ôm và ghì cổ, gáy của V vào sát người mình rồi dùng tay phải cầm 01 vỏ chai bia Hà Nội đập 01 nhát từ trên xuống vào vùng gáy, phía sau tai trái của V làm vỏ chai bia bị vỡ. DN lại gần dùng tay phải cầm 01 chai bia Hà Nội đập 01 nhát từ trên xuống vào vùng gáy của V, làm chai bia vỡ, mảnh sắc nhọn của chai bia cắt làm rách da chảy máu ở mặt ngoài cẳng tay, mu và ngón tay giữa bàn tay trái của D, D và V cùng ngã xuống nền phòng hát, D bỏ tay ra khỏi cổ V. Khi D đứng dậy H đi đến can ngăn và kéo, đẩy D ra khỏi phòng hát. Trong lúc H can ngăn D và lôi D ra khỏi phòng hát, do vẫn còn bực tức với V, DN lại chỗ V đang nằm dưới nền phòng hát dùng tay phải đấm 01 nhát trúng vào vùng cánh mũi phải và mắt phải của V, rồi DN đi ra ngoài phòng hát, lấy xe máy và chở D đi về khu công nghiệp Th. V được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện L.
Hậu quả: Tại vùng đầu có 04 vết thương rách da, sâu sát xương sọ, đang chảy máu. Trong đó có vết dài nhất là 02 cm, vết ngắn nhất là 0,7cm.
Tại vành tai sau của tai bên trái có 01 vết thương rách da chảy máu, miệng vết thương hở, kích thước vết thương dài 01 cm.
Tại vùng cánh mũi phải bị vỡ thành trước xoang hàm phải.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 128 ngày 07/10/2013 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: “Tỷ lệ tổn hại phần trăm về sức khỏe của Anh Hà Quang V là 15 %”, trong đó: Vỡ thành trước xoang hàm phải là 11%, nhiều vết thương phần mềm là 04%.
Trong quá trình điều tra, ngày 22/02/2017, Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường cho anh V số tiền 2.000.000đ, đến ngày 12/6/2017, gia đình Tạ Văn DN tự nguyện bồi thường cho anh V số tiền 5.000.000đ. Anh V đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn D, Tạ Văn DN.
Tại bản cáo trạng số 41/KSĐT-TA ngày 17/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố các bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 - Điều 104 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Đối với bị cáo Tạ Văn DN:
Áp dông: Kho¶n 2- ĐiÒu 104; ĐiÓm b,p - Kho¶n 1,2- ĐiÒu 46 của Bé luËt h×nh sù.
Xö ph¹t: Bị cáo Tạ Văn DN từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2017.
* Đối với bị cáo Nguyễn Văn D:
Áp dông: Kho¶n 2- ĐiÒu 104; ĐiÓm b,p - Kho¶n 1,2- ĐiÒu 46; Điều 47; Khoản 1,2 Điều 60 của Bé luËt h×nh sù năm 1999; Nghị quyết số 144 của Quốc Hội, Khoản 3 - Điều 7; Điểm x- Khoản 1 - Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xö ph¹t: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng .Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo DN và bị cáo D đã bồi thường cho Anh Hà Quang V và anh V không đề nghị gì khác nên không đặt ra trách nhiệm dân sự của bị cáo DN và bị cáo D đối với anh V.
Đối với thiệt hại của Anh Nguyễn Ngọc Th là chủ quán, do hành vi của bị cáo DN và bị cáo D gây ra là làm vỡ 05 vỏ chai bia Hà Nội, 01 mặt bàn kính giá trị thiệt hại khoảng 320.000đ (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng anh Th không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ. Trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña kiÓm s¸t viªn, cña các bÞ c¸o, cña ng êi bÞ h¹i, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 23 giờ ngày 29/10/2016, tại phòng hát VIP2 của quán karaoke Giang Sơn thuộc Khu 13, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ, do mâu thuẫn giữa Nguyễn Văn D và Hà Quang V nên Nguyễn Văn D đã có lời nói kích động Tạ Văn DN với mục đích để Tạ Văn DN cùng D đánh V, sau đó, Nguyễn Văn D và Tạ Văn DN đã có hành vi dùng tay và vỏ chai bia Hà Nội loại 450 ml đánh gây thương tích cho Hà Quang V với tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của Anh Hà Quang V là 15%.
Lêi khai nhËn cña các bÞ c¸o tại phiên tòa hôm nay phï hîp víi lêi khai cña các bị cáo tại cơ quan Điều tra, người bị hại, người làm chứng, phï hîp víi thêi gian, ®Þa ®iÓm n¬i x¶y ra téi ph¹m; các chøng cø vµ tµi liÖu mµ c¬ quan ĐiÒu tra ®· thu thËp ® îc cã l u trong hå s¬ vô ¸n. Ngoµi lêi khai nhËn trªn các bị cáo kh«ng ®ưa ra ® îc lêi bµo ch÷a nµo kh¸c.
Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý và là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nh vËy, cã ®ñ c¬ së kh¼ng ®Þnh: Các bị c¸o Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D đã thực hiện hành vi ph¹m vào téi: “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 2 - Điều 104 của Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Nội dung điều luật quy định:
‘‘1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người.
…;
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.”
XÐt hµnh vi cña các bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, thuộc loại tội nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trËt tù trÞ an xã hội trên địa bàn.
Vụ án có đồng phạm xong các bị cáo không bàn bạc mà đều tự hiểu ý nhau gây thương tích cho anh V nên không mang tính chất tổ chức, không phân hóa vai trò của từng bị cáo mà căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt đối với từng bị cáo.
Đối với bị cáo Tạ Văn DN: Không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo có nhân thân xấu đó là: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2009/HS-ST ngày 24/02/2009 của Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 03 tháng 14 ngày tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2010/HS-ST ngày 21/7/2010 của Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội - Điều đó chứng tỏ bị cáo là người sống buông thả, không chịu rèn luyện, cải tạo, bất chấp pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới hy vọng cải tạo bị cáo thành công dân tốt.
Tuy nhiên bị cáo được hưởng t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù quy ®Þnh t¹i ĐiÓm b, p - Kho¶n 1 - ĐiÒu 46 của Bé luËt h×nh sù đó là: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; thµnh khÈn khai b¸o, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 - Điều 46 của Bộ luật hình sự là người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn D: Không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo được hưởng các t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù quy ®Þnh t¹i ĐiÓm b, p - Kho¶n 1 - ĐiÒu 46 của Bé luËt h×nh sù đó là: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại; thµnh khÈn khai b¸o, ăn năn hối cải. Theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội, Khoản 3 - Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm x - Khoản 1 - Điều 51 của BLHS năm 2015 đó là bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng. Ngoài ra bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 - Điều 46 của Bộ luật hình sự là người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại gia đình, địa phương cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình, xã hội.
VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Trong quá trình điều tra, ngày 22/02/2017 bị cáo D đã bồi thường cho anh V số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng); ngày 12/6/2017 bị cáo DN và gia đình đã bồi thường cho anh V 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Anh V không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra trách nhiệm bồi thường gì khác của các bị cáo đối với anh V nên cần xác nhận việc bồi thường của các bị cáo đối với anh V đã xong là phù hợp.
Đối với thiệt hại của anh Nguyễn Ngọc Th là chủ quán, do hành vi của bị cáo DN và bị cáo D gây ra là làm vỡ 05 vỏ chai bia Hà Nội loại 450ml bằng thủy tinh, 01 mặt bàn kính giá trị thiệt hại khoảng 320.000đ (Ba trăm hai mươi nghìn đồng) nhưng anh Th không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo là phù hợp.
Về thương tích của Nguyễn Văn D tại cẳng tay và mu bàn tay trái do Tạ Văn DN gây ra cho D, D đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích, không yêu cầu giải quyết cũng như không đề nghị bồi thường nên không đặt ra trách nhiệm bồi thường đối với bị cáo D là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyªn bè: Các bị cáo Tạ Văn DN và Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Đối với bị cáo Tạ Văn DN:
Áp dông: Kho¶n 2- ĐiÒu 104; ĐiÓm b, p - Kho¶n 1,2 - ĐiÒu 46 của Bé luËt h×nh sù.
Xö ph¹t: Bị cáo Tạ Văn DN 33 (Ba ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2017.
* Đối với bị cáo Nguyễn Văn D:
Áp dông: Kho¶n 2- ĐiÒu 104; ĐiÓm b,p - Kho¶n 1,2- ĐiÒu 46; Khoản 1,2 - Điều 60 của Bé luËt h×nh sù năm 1999; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội, Khoản 3 - Điều 7; Điểm x - Khoản 1 - Điều 51 của Bé luËt H×nh sù năm 2015.
Xö ph¹t: Bị cáo Nguyễn Văn D 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện L để giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã X, huyện L trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Khoản 1 - Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
H×nh ph¹t bæ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo D.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 1 - Điều 42 của Bộ luật hình sự: Xác nhận bị cáo DN và bị cáo D đã bồi thường cho Anh Hà Quang V xong.
VÒ ¸n phÝ: ¸p dông Kho¶n 1,2 - ĐiÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; Điểm a - Khoản 1 - Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buéc bÞ c¸o Tạ Văn DN ph¶i chÞu 200.000® (Hai tr¨m ngh×n ®ång) tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm. Buéc bÞ c¸o Nguyễn Văn D ph¶i chÞu 200.000® (Hai tr¨m ngh×n ®ång) tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
Trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n, các bÞ c¸o có mặt có quyÒn kh¸ng c¸o để đề nghị Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xÐt xö phóc thÈm. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy bản sao bản án giao cho họ hoặc niêm yết để đề nghị Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Phó Thä xÐt xö phóc thÈm./. N¬i nhËn:
| - VKSND huyÖn L, tỉnh PT; - Trại giam Công an tỉnh PT; - Sở Tư pháp Phú Thọ; - Chi cục THA DS huyện L; - Các bÞ c¸o; - Ngưêi bÞ h¹i; - Người có QL và NV liên quan: - UBND xã Th, TP. V; - UBND xã X; -- Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ (đã ký) Nguyễn Đăng Trình |