vanban.org

Bản án 47/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân H, buộc vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân H 22.097.500đ (Hai mươi hai triệu không trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm đồng. Về án phí, lệ phí: Áp dụng: khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Quỹ tín dụng nhân dân H yêu cầu ông H và bà P phải trả số tiền nợ và lãi là 22.097.500đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2017/DS-ST.
Ngày: 23/8/2017.
V/v: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Nguyễn Thanh Phong

2. Bà Trần Thị Kim Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2017/TLST-DS ngày 26/6/2017, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2017/QĐST-DS ngày 25/7/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2017/QĐST-DS ngày 08/8/2017 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân H do ông Lê Văn Dũng – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật; Địa chỉ: Thôn Đ 1, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận

2.Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thái Văn T – Chức vụ Phó Giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân H (Có mặt) theo giấy ủy quyền ngày 07/6/2017. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận

3.Bị đơn: - Ông Lê Minh H – sinh năm 1966 (Vắng mặt)

- Bà Lê Thị P – sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Đ 1, xã H, huyện Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/6/2017 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân H do ông Thái Văn T là đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 14/5/2013, vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P có ký hợp đồng vay của Quỹ tín dụng nhân dân H số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, ngày trả nợ 14/5/2014, lãi suất trong hạn 1,3%/tháng, lãi suất quá hạn 1,95%/tháng, mục đích vay tiền để làm ăn. Khi đến hạn trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân H nhắc nhở, thông báo đến nhà nhưng ông H và bà P không chịu trả nợ. Ông H bà P cam kết trả nợ vào các ngày 15/6/2014, 15/7/2014, 18/9/2016 và 20/3/2017 nhưng không thực hiện đúng cam kết mà chỉ trả lãi là 6.195.000đ. Nay Quỹ tín dụng nhân dân H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H và bà P trả nợ gốc là 15.000.000đ, lãi trong hạn 2.372.500đ từ 14/5/2013 đến 14/5/2014, lãi quá hạn 10.920.000đ từ ngày 15/5/2014 đên ngày 07/6/2017. Tổng cộng gốc và lãi là 28.292.500đ trừ tiền lãi đã trả 6.195.000đ, còn lại 22.097.500đ.

Bị đơn vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày 18/7/2017 ông Lê Minh H trình bày: Ngày 14/5/2013, vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P có ký hợp đồng vay của Quỹ tín dụng nhân dân H số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, ngày trả nợ 14/5/2014, lãi suất trong hạn 1,3%/tháng, lãi suất quá hạn 1,95%/tháng, mục đích vay tiền để làm ăn. Khi đến hạn trả nợ thì thì vợ chồng ông bà khó khăn nên trả không đúng hẹn. Nay Quỹ tín dụng nhân dân H khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả gốc và lãi là 22.097.500đ trong đó gốc 15.000.000đ và lãi 7.095.500đ thì ông đồng ý nhưng xin giảm½ tiền lãi.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P không có mặt nên các bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông bà vẫn cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông bà đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P.

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2017/QĐST-DS ngày 25/7/2017 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện Hàm Thuận Bắc nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.

2.Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng vay tài sản giữa hai bên được xác lập vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực nhưng giao dịch dân sự này có nội dung và hình thức phù hợp Bộ luật dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết.

3.Về thời hiệu khởi kiện: Sau khi vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày 20/02/2017, ngày 07/6/2017 Quỹ tín dụng nhân dân H đã thực hiện quyền khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc trong hạn 03 năm nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

4.Về tư cách tham gia tố tụng: Căn cứ giấy ủy quyền của nguyên đơn, ủy quyền cho ông Thái Văn T đại diện là hợp lệ đúng quy định tại Điều 138 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

5.Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của hai bên thì hai bên thống nhất bị đơn có nợ nguyên đơn 15.000.000đ. Căn cứ Hợp đồng vay tiền số 526/13/HĐTD ngày 14/5/2013 do hai bên thỏa thuận thì vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P có ký hợp đồng vay tiền của Quỹ tín dụng nhân dân H thể hiện số tiền gốc 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), thời hạn vay 12 tháng, ngày trả nợ 14/5/2014, lãi suất trong hạn 1,3%/tháng, lãi suất quá hạn 1,95%/tháng. Do đó, bị đơn có nợ nguyên đơn tiền gốc 15.000.000đ được các bên thừa nhận và ký kết không trái với quy định của pháp luật nên có đủ cơ sở xác định hợp đồng vay tiền có thời hạn và có lãi giữa các bên đã phát sinh hiệu lực pháp luật. Đến hạn trả nợ nhưng bị đơn không trả cho nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc đã vay 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) và lãi 7.097.500đ là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

8.Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P buộc phải trả tiền cho Quỹ tín dụng nhân dân H vì vậy vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P phải chịu án phí trên tổng số tiền phải trả theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P phải chịu 22.097.500đ x 5% = 1.105.000đ.

Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

2.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân H, buộc vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân H 22.097.500đ (Hai mươi hai triệu không trăm chín mươi bảy ngàn năm trăm đồng.

3.Về án phí, lệ phí: Áp dụng: khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

-Vợ chồng ông Lê Minh H và bà Lê Thị P phải chịu 1.105.000đ (Một triệu một trăm lẻ năm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Quỹ tín dụng nhân dân H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Quỹ tín dụng nhân dân H 552.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0014429 ngày 26/6/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

4.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2017). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết tại địa phương.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong các khoản tiền nêu trên thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành, mức lãi suất như sau:

- Theo thỏa thuận của đương sư nhưng không được quá 20%/ năm, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật.

- Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì theo mức lãi suất 10%/ năm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ