- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Th và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Văn T; Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Bùi Vă…
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 469/2025/HS-PT Ngày 29-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ;
Ông Nguyễn Thanh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 146/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Bùi Văn T và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh).
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Bùi Văn T sinh năm 1970 tại tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); nơi cư trú: số A, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Hồ Thị L (đã chết); có vợ và không có con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về các tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 215/2014/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2014;
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 19 tháng 4 năm 2024 đến ngày 25 tháng 4 năm 2024 được trả tự do và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
2. Võ Thị T2 sinh năm 1959 tại tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh); nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L1 (đã chết) và bà Phan Thị Đ (đã chết); có chồng (đã ly hôn) và 02 con; tiền sự: không;
Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng) xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trốn thuế”, theo Bản án số 34/2017/HS-ST ngày 05/7/2017 (chưa được xóa án tích, do chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn dân sự Chi cục thuế huyện E, tỉnh Đăk Lăk);
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 19 tháng 4 năm 2024 đến ngày 25 tháng 4 năm 2024 được trả tự do và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn T: Bà Lê Thị Mỹ H – Luật sư Văn phòng Võ Tấn Đ1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 07 bị cáo; 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, Đ2 Công an thành phố T chủ trì và phối hợp với Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang Nguyễn Ngọc T3 đang sử dụng phòng ngủ của mình tại căn nhà trên để cho 08 đối tượng khác, chia thành 02 chiếu bạc, đánh bạc với nhau thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tứ sắc rồi thu 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng tiền xâu. Chiếu bạc thứ nhất gồm có: Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2 và Bùi Ngọc T4; chiếu bạc thứ hai gồm có: Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2, Võ Thị T2. Đồng thời, lực lượng công an tiến hành thu giữ của T3 số vật chứng, gồm: 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng; 02 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng; 01 tấm vải màu cam có hoa văn bông hoa màu đỏ và vàng, kích thước 80 cm x 100 cm; 01 tấm vải màu sọc cam và xanh có hoa văn bông hoa, kích thước 80 x 100 cm; 08 viên đá lớn nhiều màu, 69 viên đá nhỏ màu xanh dương và 70 viên đá nhỏ màu trắng là những công cụ dùng để đánh bạc và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10, màu tím; thu giữ trong người của Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2, Bùi Ngọc T4, Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2 tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 37.550.000 (ba mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T xác định được hành vi phạm tội của Nguyễn Ngọc T3, Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2, Bùi Ngọc T4, Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2, cụ thể như sau:
Các con bạc đánh bạc dưới hình thức đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau: Các con bạc thống nhất với nhau khi tham gia đánh bạc thì một ván mỗi người có 01 chếnh trị giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, được quy đổi thành 200 lệnh, cụ thể: 01 cục đá lớn là 100 lệnh tương đương 100.000 (một trăm nghìn) đồng, 01 cục đá nhỏ màu xanh là 10 lệnh tương đương 10.000 (mười nghìn) đồng, 01 cục đá nhỏ màu trắng là 01 lệnh tương đương 1.000 (một nghìn) đồng. Các con bạc đều đồng ý khi đánh một ván thì Nguyễn Ngọc T3 thu trước của mỗi người chơi 05 lệnh tương đương 5.000 (năm nghìn) đồng nên thực tế khi đánh bạc mỗi con bạc tuy sẽ bỏ ra số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng một chếnh nhưng sẽ chỉ nhận được số lượng cục đá tương ứng với 195 lệnh, đến khi có một trong bốn con bạc của một chiếu bạc thua hết 195 lệnh thì kết thúc một ván và các con bạc thua hết hoặc thua ít sẽ bỏ ra số tiền sao cho đủ 195 lệnh để chung cho các con bạc thắng (có số cục đá tương ứng trên 195 lệnh) và lúc này T3 sẽ thu tiền xâu tương ứng 20 lệnh một ván là 20.000 (hai mươi nghìn) đồng. Chiếu bạc thứ nhất có Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2, Bùi Ngọc T4 tham gia đánh bạc với nhau và chiếu bạc thứ hai có Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2 tham gia đánh bạc với nhau; cả 02 chiếu bạc đều diễn ra tại phòng ngủ của T3, tổng số tiền xâu T3 đã thu được ở hai chiếu bạc tổng cộng là 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng; trong khi các con bạc đang đánh đến ván thứ hai, chưa kết thúc thì bị kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.
- Nguyễn Ngọc T3 khai nhận: Do có mối quan hệ là bạn bè quen biết và muốn kín đáo và sợ bị phát hiện nên trước đây, T3 đã từng rủ một số con bạc vô phòng ngủ của T3 trong căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ để đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền, T3 sẽ cung cấp bộ bài, đồ ăn và nước uống cùng công cụ khác để tổ chức đánh bạc nhằm thu tiền xâu. Đến khoảng 12 giờ ngày 19/4/2024, các con bạc Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2, Bùi Ngọc T4, Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2 đến nhà và vào phòng ngủ của T3, trong căn nhà nêu trên để đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tứ sắc. T3 cung cấp 02 tấm vải, 02 bộ bài tứ sắc, các cục đá quy ước, chuẩn bị đồ ăn và nước uống để cho 02 chiếu bạc diễn ra và thu được 40.000 (bốn mươi nghìn) đồng tiền xâu; đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số vật chứng như đã nêu trên.
- Bùi Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 61B2-458.91 đến nhà của Nguyễn Ngọc T3 tại địa chỉ nhà không số trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, rồi tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài tứ sắc ở chiếu bạc thứ nhất cùng với Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2 và Bùi Ngọc T4. Ngoài ra, tại đây cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. T mang theo số tiền 14.800.000 (mười bốn triệu tám trăm nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc ván thì T thua hết một chếnh 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và đang chơi ván thứ 02, lúc này T đang có 01 cục đá lớn tương đương 100 lệnh tương ứng với 100.000 (một trăm nghìn) đồng, 06 cục đá nhỏ màu xanh tương đương 60 lệnh tương ứng với 60.000 (sáu mươi nghìn) đồng, 05 cục đá nhỏ màu trắng tương đương 05 lệnh tương ứng với 5.000 (năm nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, T bị thu giữ 14.600.000 (mười bốn triệu, sáu trăm nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc, 01 xe mô tô Honda Vision màu xanh đen, biển số 61B2-458.91; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11.
- Trương Ngọc H1 khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 19/4/2024, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 61F1-399.62 đến nhà của Nguyễn Ngọc T3 tại địa chỉ nhà không số trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, rồi tham gia đánh bạc ở chiếu bạc thứ nhất cùng với Trần Thị Mỹ L2, Bùi Ngọc T4 và Bùi Văn T. Ngoài ra, tại đây cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. H1 mang theo số tiền 6.120.000 (sáu triệu, một trăm hai mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì kết thúc ván đầu nhưng H1 không thắng không thua và đang chơi ván thứ 02, lúc này H1 đang có 11 cục đá nhỏ màu xanh tương đương 110 lệnh ứng với 110.000 (một trăm mười nghìn) đồng, 07 cục đá nhỏ màu trắng tương đương 07 lệnh ứng với 7.000 (bảy nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, H1 bị thu giữ 6.120.000 (sáu triệu một trăm hai mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 61F1-399.62.
- Trần Thị Mỹ L2 khai nhận: Do Lê Thúy H2 sau khi đi Vũng Tàu chơi về thì ghé nhà của Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ tại căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để chơi và không có xe về lại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên H2 gọi điện thoại nhờ L2 đến chở H2 về. Đến khoảng 10 giờ ngày 19/4/2024, L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 59Y3-615.63 chạy đến nhà T3 thì thấy H2 đang chơi tứ sắc nên L2 nằm đợi. Đợi một lúc thì có Bùi Ngọc T4, Bùi Văn T và Trương Ngọc H1 đến tham gia đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền nên L2 cũng tham gia chơi cho đủ bốn người một chiếu. L2 dự định dùng số tiền 4.020.000 (bốn triệu, không trăm hai mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày thì kết thúc ván nhưng L2 không thắng không thua và đang chơi ván thứ 02, lúc này L2 đang có 01 cục đá lớn tương đương 100 lệnh tương ứng với 100.000 (một trăm nghìn) đồng, 09 cục đá nhỏ màu xanh tương đương 90 lệnh ứng với 90.000 (chín mươi nghìn) đồng, 10 cục đá nhỏ màu trắng tương đương 10 lệnh tương ứng với 10.000 (mười nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, L2 bị thu giữ 4.020.000 (Bốn triệu, không trăm hai mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số 59Y3-615.63 do ông Huỳnh Minh K (là anh chồng của L2) đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy.
- Bùi Ngọc T4 khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 19/4/2024, T4 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, biển số 61B2-280.51 chạy đến nhà của Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ tại căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thu tiền Dương Cẩm T5 nợ T4. Lúc này, T4 thấy đang có chơi bài tứ sắc thắng thua bằng tiền nên vào tham gia đánh bạc ở chiếu bạc thứ nhất cùng với Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2 và Bùi Văn T. Ngoài ra, tại đây T4 cũng thấy đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. T4 mang theo số tiền 4.360.000 (bốn triệu, ba trăm sáu mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc một ván thắng được 180.000 (một trăm tám mươi nghìn) đồng và đang chơi ván thứ 02, lúc này T4 đang có 02 cục đá lớn là 200 lệnh tương ứng với 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 09 cục đá nhỏ màu xanh là 90 lệnh tương ứng với 90.000 (chín mươi nghìn) đồng, 08 cục đá nhỏ màu trắng là 08 lệnh tương ứng với 8.000 (tám nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, T4 bị thu giữ 4.540.000 (bốn triệu năm trăm bốn mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu đỏ, biển số 61B2-280.51 do ông Trần Tấn P (là chồng của T4) đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax.
- Dương Cẩm T5 khai nhận: T5 là người giúp việc nhà theo giờ. Ngày 19/4/2024, T5 đến nhà Nguyễn Ngọc T3 địa chỉ tại căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương làm việc nhà; đến khoảng 13 giờ 30 phút thì T5 tham gia đánh bài tứ sắc ở chiếu thứ hai cùng với Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2. Ngoài ra, tại đây T5 thấy cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. T5 dự định dùng số tiền mang theo là 3.560.000 (ba triệu, năm trăm sáu mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc ván đầu tiên T5 thắng được số tiền 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng và đang chơi ván thứ 02; lúc này, T5 đang có 02 cục đá lớn là 200 lệnh tương ứng với 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 08 cục đá nhỏ màu xanh là 80 lệnh tương ứng với 80.000 (tám mươi nghìn) đồng, 10 cục đá nhỏ màu trắng là 10 lệnh tương ứng với 10.000 (mười nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, T5 bị thu giữ 3.630.000 (ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc.
- Vũ Quốc B khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 59Y2 – 924.71 chạy đến nhà Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ tại nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ để thăm bệnh mẹ chồng của T3 thì thấy có một số người bạn của T3 cũng đến thăm mẹ chồng của T3, nên mới rủ nhau chơi bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. B tham gia chơi ở chiếu thứ hai cùng với Dương Cẩm T5, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2. Ngoài ra, tại đây B thấy cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. B dự định dùng số tiền mang theo là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc ván đầu tiên thì B thua hết một chếnh là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và đang chơi ván thứ hai; lúc này, B đang có 27 lệnh (02 viên đá nhỏ màu xanh, 07 viên đá nhỏ màu trắng) tương ứng với 27.000 (hai mươi bảy nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, B bị thu giữ 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 59Y2 – 924.71. 01 do bà Lê Ngọc N (là con của B) đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy M14 5G, màu xanh.
- Lê Thúy H2 khai nhận: Ngày 19/4/2024, H2 đi du lịch ở thành phố V về đến nhà Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ tại nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ để chờ Trần Thị Mỹ L2 đến đưa về nhà thì thấy T3 đang tổ chức đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền nên H2 tham gia vào chơi ở chiếu thứ hai cùng với Dương Cẩm T5, Võ Thị T2 và Vũ Quốc B. Ngoài ra, tại đây H2 thấy cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. H2 dự định dùng số tiền mang theo là 3.860.000 (ba triệu, tám trăm sáu mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc ván đầu tiên thì H2 thua hết một chếnh 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và đang chơi ván thứ hai, lúc này H2 đang có 12 cục đá nhỏ màu xanh là 120 lệnh tương ứng với 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng, 12 cục đá nhỏ màu trắng là 12 lệnh tương ứng với 12.000 (mười hai nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, H2 bị thu giữ 3.660.000 (ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng.
- Võ Thị T2 khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 19/4/2024, T2 đến nhà Nguyễn Ngọc T3, địa chỉ tại nhà không số trên đường Đ, khu phố D, phường Đ để thăm bệnh mẹ chồng của T3 thì nhìn thấy trong phòng ngủ của T3 đang có nhiều người đang đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền nên T2 tham gia vào chơi ở chiếu thứ hai ở cùng với Dương Cẩm T5, Lê Thúy H2 và Vũ Quốc B. Ngoài ra, tại đây Tươi thấy cũng đang có một chiếu bạc khác gồm 04 người đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền. Tươi dự định dùng hết số tiền mang theo là 270.000 (hai trăm bảy mươi nghìn) đồng để đánh bạc, đến 14 giờ 30 phút cùng ngày kết thúc ván đầu tiên thì T2 thắng được 310.000 (ba trăm mười nghìn) đồng và đang chơi ván thứ hai; lúc này, T2 đang có 02 cục đá lớn là 200 lệnh ứng với 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 12 cục đá nhỏ màu xanh là 120 lệnh tương ứng với 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng, 11 cục đá nhỏ màu trắng là 11 lệnh tương ứng với 11.000 (mười một nghìn) đồng. Khi bị bắt quả tang, T2 bị thu giữ 580.000 (năm trăm tám mươi nghìn) đồng là tiền dùng để đánh bạc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A50s.
Như vậy, tổng số tiền các con bạc Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2 và Bùi Ngọc T4 bị thu giữ trong người dùng để đánh bạc ở chiếu thứ nhất là 29.280.000 (hai mươi chín triệu, hai trăm tám mươi nghìn) đồng; tổng số tiền các con bạc Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2 bị thu giữ trong người dùng để đánh bạc ở chiếu thứ hai 8.270.000 (tám triệu, hai trăm bảy mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền thu giữ trong người 08 con bạc trên cả hai chiếu bạc dùng vào mục đích đánh bạc là 37.550.000 (ba mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Bùi Văn T 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 25/4/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Thị T2 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 25/4/2024.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T3 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng; hình phạt bổ sung: phạt bị cáo số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; xử phạt bị cáo Trương Ngọc H1 số tiền 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng; xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T4 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng; xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ L2 số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng; xử phạt bị cáo Lê Thúy H2 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng; xử phạt bị cáo Dương Cẩm T5 số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng; xử phạt bị cáo Vũ Quốc B số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng; tuyên về biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 19 tháng 5 năm 2025, bị cáo Bùi Văn T có đơn kháng cáo xin được phạt tiền hoặc xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
- Ngày 26 tháng 5 năm 2025, bị cáo Võ Thị T2 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin được phạt tiền hoặc được hưởng án treo; kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm bị cáo Bùi Văn T rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Văn T. Đối với bị cáo Võ Thị T2, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo Võ Thị T2 không tham gia tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm được trở về chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của các bị cáo thống nhất với nội dung vụ án đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/4/2024, tại căn nhà không số, trên đường Đ, khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Ngọc T3 có hành vi sử dụng địa điểm do T3 quản lý và cung cấp công cụ, đồ ăn, nước uống để tổ chức đánh bạc rồi thu tiền xâu ở 02 chiếu bạc trong cùng một lúc mà tổng số tiền các con bạc bị bắt quả tang ở chiếu thứ nhất gồm các bị cáo Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Trần Thị Mỹ L2 và Bùi Ngọc T4 và các con bạc bị bắt quả tang ở chiếu thứ hai gồm các bị cáo Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2 và Võ Thị T2 dùng để đánh bạc là 37.550.000 (Ba mươi bảy triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng, thu lợi bất chính số tiền 40.000 (Bốn mươi nghìn) đồng. Đối với các bị cáo Bùi Văn T, Trương Ngọc H1, Bùi Ngọc T4, Trần Thị Mỹ L2 có hành vi đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền với nhau, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 29.280.000 (Hai mươi chín triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng. Các bị cáo Võ Thị T2, Lê Thúy H2, Dương Cẩm T5 và Vũ Quốc B có hành vi đánh bài tứ sắc thắng thua bằng tiền với nhau, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 8.270.000 (Tám triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử các bị cáo đối với các tội danh trên là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngày 22/9/2014, bị cáo Bùi Văn T bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Võ Thị T2 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trốn thuế”, theo Bản án số 34/2017/HS-ST Ngày 05/7/2017, chưa được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh cho bản thân mà vẫn tiếp tục vi phạm, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo với nội dung xin được hưởng án treo hoặc phạt tiền. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới;
Đối với bị cáo Bùi Văn T tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo T rút toà bộ yêu cầu kháng cáo; việc rút kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T;
Đối với bị cáo Võ Thị T2; Hội đồng xét xử xét thấy tại chiếu bạc mà các bị cáo Dương Cẩm T5, Vũ Quốc B, Lê Thúy H2, Võ Thị T2, tham gia đánh bạc thu giữ số tiền là là 8.270.000 đồng; bị cáo T2 sử dụng tham gia đánh bạc với số tiền 270.000 đồng/8.270.000 đồng); thấp nhất so với các bị cáo còn lại trong vụ án tại chiếu bạc thứ 2; bị cáo lớn tuổi (sinh năm 1959) mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc so với các bị cáo khác trong vụ án. Do đó, kháng cáo của bị cáo T2 xin giảm nhẹ hình phạt là có cơ sở chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Võ Thị T2 chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Võ Thị T2 được chấp nhận 01 phần nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357; Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Văn T; Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh) có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Bùi Văn T;
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Thị T2; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 85/2025/HS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là Toà án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh);
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Thị T2 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 25/4/2024.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh (06); - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh; - Bị cáo (02); - Người tham gia tố tụng (01); - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú (02); - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, 18, (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Lộc |