- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin Ly Hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H1 đối với anh Huỳnh Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 469/2023/HNGĐ-ST Ngày 28-9-2023 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Ngân
2. Ông Võ Văn Tám
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Vỉnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 283/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023, về tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 318/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P, An Giang.
Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1984, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
(chị H có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ theo đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn chị Phan Thị Ngọc H trình bày: chị và anh Huỳnh văn N1 tự tìm hiểu quen biết nhau, được sự đồng ý của cha mẹ hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới năm 2007, có đăng ký kết hôn UBND xã P. Sau đám cưới vợ chồng sống chung cha mẹ chồng thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc dần dần phát sinh mâu thuẫn do anh N1 theo bạn bè thường xuyên nhậu nhẹt, không lo kinh tế cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng đến đầu năm 2023 chị về nhà sống với cha mẹ ruột, vợ chồng ly thân từ đó. Thời gian trước chị có gởi đơn xin ly hôn với anh N1, sau đó được Toà án động viên chị rút lại đơn kiện, muốn cho anh cơ hội để sửa đổi nhưng anh không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn N.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Thị Mỹ T, sinh ngày 13/7/2010. Chị H đồng ý giao con chung cho anh N tiềp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu phải trả: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày và không tiến hành hoà giải. Không ghi nhận được ý kiến.
* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được quyy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chứng tỏ thái độ chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
Về nội dung:
Cả hai tự tìm hiểu được cha mẹ chấp thuận chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn nên mối quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do các bên bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Về con chung, cháu T đang do anh N nuôi dưỡng, chị H đồng ý tiếp tục giao con cho anh N, để giữ ổn định đứa trẻ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục giao cháu T cho anh N nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: anh Huỳnh Văn N thường trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Nên chị Phan Thị Ngọc H khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Hôn nhân giữa chị H và anh N tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra.
Chị H cho rằng hai bên có mâu thuẫn lý do anh N không lo kinh tế gia đình, đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi, chị cảm thấy không còn yêu thương lẫn nhau, mặc dù đã cho cơ hội nhiều lần nhưng bản chất anh N không sửa đổi, chị cương quyết ly hôn vì muốn giải thoát cuộc sống hôn nhân ngột ngạt không còn tình cảm, anh N trong suốt quá trình tố tụng không tham dự, Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải nhưng anh không đến, không thể hiện thiện chí hàn gắn, xác minh điều kiện, hoàn cảnh tình trạng hôn nhân Tòa án nhận thấy hôn nhân không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về con chung gồm: : Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Thị Mỹ T, sinh ngày 13/7/2010. Chị H đồng ý giao con chung cho anh N tiềp tục nuôi, chị không cấp dưỡng nuôi con,để đảm bảo quyền lợi và sự ổn định đứa trẻ Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục giao cho anh N được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên anh N vắng mặt không có yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét đối với chị H về vấn đề cấp dưỡng.
Trong thời gian nuôi con, chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh N khi đến thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ phải thu: Quá trình làm việc chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ phải trả: Các đương sự khai không có, vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Về án phí: chị N là người xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Ngọc H1 đối với anh Huỳnh Văn N.
Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2011 ngày 24/02/2011 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp cho anh và chị không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm Bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Anh Huỳnh Văn N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung tên Huỳnh Thị Mỹ Tiên s ngày 13/7/ 2010 đến khi con chung trưởng thành hoặc lao động được, chị Phan Thị Ngọc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về quan hệ tài sản chung và nợ: Không yêu cầu.
Án phí: chị Lê Thị Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0006359 ngày 14/7/2023 của cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Nguyễn Phước Quân T1 không phải chịu án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản sao Bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Ủy ban nhân dân xã Phú Hiệp - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |