vanban.org

Bản án 467 — Tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 16/12/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C¨n cø : khoản 5 §iÒu 26,điều 35,điểm d khoản 3 điều 192 và điểm c khoản 1

C¨n cø Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Phần thứ 1 của bà Vũ Thị Vi ( Bao gồm 02 phần của bà Vi và anh Hoàng) với Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Vũ Văn Sinh - Vũ Thị Vi"
  • Tòa quyết gì? C¨n cø : khoản 5 §iÒu 26,điều 35,điểm d khoản 3 điều 192 và điểm c khoản 1
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 467 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 467/2020/DS - PT
Ngµy: 16/12/2020
V/v: “Tranh chÊp chia thừa kế”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Héi ®ång xÐt xö phúc thÈm gåm cã:

Thẩm phán- Chñ to¹ phiªn toµ:Bà Nguyễn Thị Thúy

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Viết Văn

Ông Mai Tiến Dũng

- Th

ký phiªn toµ:Bà Vương Thùy Dương- Thư ký TANDTP Hà Nội

- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng

Vĩnh Thảo-KiÓm s¸t viªn

Ngµy 16 th¸ng 12 n¨m 2020, t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n thành phố Hà Nội xÐt xö phúc thÈm c«ng khai vụ án Dân sự thụ lý số: 159/2020/TLPT- DS ngày 06 tháng 3 năm 2020 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2019/DS – ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên bị kháng cáo.

Theo QuyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè: 465/2020/Q§XX-PT ngµy 09 th¸ng 01 n¨m 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số583/2020/QĐPT-DS ngày 20/11/2020; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 600/2020/QĐPT-DS ngày 30/11/2020, gi÷a c¸c ® ¬ng sù:

Đồng nguyên đơn:

1. Ông Vũ Văn Sinh, sinh năm 1955; ĐKHKTT: Tổ 13 - phường Long Biên - quận Long Biên - Hà Nội; Hiện trú tại: Tổ 15 - phường Long Biên - quận Long Biên

- Hà Nội (Chết ngày 17/8/2019 theo giấy chứng tử số 249/TLKT-BS ngày 20/8/2019 của UBND phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Sinh:

1.1. Anh Vũ Tuấn, sinh năm 1988, hiện trú tại: số 7 ngõ 87 đường Lý Sơn, tổ 31 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội.(Có mặt).

Người bảo vệ quyền lợi cho anh Vũ Tuấn: Ông Nguyễn Ngọc Khiêm, công ty luật TNHH Tuệ Lâm - Đoàn luật sư Hà nội (có mặt)

1.2. Bà Lê Thu Hằng, sinh năm 1961, Trú tại: số 88 ngõ 211 Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội (vắng mặt)

Người đại diện ủy quyền của bà Hằng: Anh Nguyễn Văn Điệp, sinh năm 1993,ĐKHKTT: Thôn Phúc Lộc, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội. Theo hợp đồng ủy quyền số chứng thực: 548/2019/HĐUQ quyển số: 01/ VP/CC- SCC/HĐGD ngày 28/8/2019 tại Văn phòng công chứng Trương Thị Nga, Hà Nội (xin vắng mặt)

2. Bà Vũ Thị Ly, sinh năm 1958; ĐKHKTT: Số 1, Tổ 19 Nha- phường Long Biên-quận Long Biên- Hà Nội, nay là số: 253B, đường Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội (xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cuả bà Ly: Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng, sinh năm 1985- Văn phòng luật sư Kết Nối- Đoàn luật sư Hà Nội (có mặt)

Bị đơn : Bà Vũ Thị Vi, sinh năm 1965; trú tại: số 249-251 đường Bát Khối,phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Vi: Luật sư Châu Thành Nam (có mặt) và Luật sư Nguyễn Anh Vân- Công ty Luật TNHH VILOB Nam Long- Đoàn Luật sư TP. Hà Nội (vắng mặt)

Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vũ Đình Thắng, sinh năm: 1982 và chị Trần Thị Hằng, sinh năm 1984, cùng HKTT: Số 10 Phạm Hồng Thái, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội. Hiện ở: số 253 , đường Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội (xin vắng mặt)

2. Ông Lê Quang Hiển (chồng bà Vi), sinh năm 1965 (có mặt)

3. Anh Lê Đức Huy, sinh năm 1997; anh Lê Đức Lương, sinh năm 2008 (con ông Hiển bà Vi- xin vắng mặt), cùng có HKTT và trú tại: Số 249-251 đường Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội.

4. Ông Thẩm Văn Ngọc, sinh năm 1957; Chị Thẩm Hồng Nhung, sinh năm 1983; Chị Thẩm Thị Phương Anh, sinh 1986; chị Thẩm Thị Diệu Khánh, sinh 1993; Anh Nguyễn Anh Thơ, sinh năm 1977 ; anh Nguyễn Đức Phú, sinh ngày 27/4/2012 . Cùng hộ khẩu tại: 253 B, Đường Bát Khối, phường Long Biên, Hà Nội (có đơn vắng mặt)

5. Anh Vũ Minh Hoàng, sinh năm 1976, ĐKNKTT và cư trú địa chỉ: Ấp 3, xã Thừa Đức, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin vắng mặt).

Người địa diện theo ủy quyền của anh Hoàng: Bà Vũ Thị Vi (Giấy ủy quyền ngày 10/4/2017).

6. Văn phòng công chứng Ba Đình, Trụ sở: số 3C Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội, nay đổi tên là Văn phòng công chứng Tạ Hiền, trụ sở: 73 Quan Thánh, phường Quan Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt)

7. Văn phòng công chứng Lạc Việt; Trụ sở: 49 Văn Cao, quận Ba Đình, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt)

8. Văn phòng công chứng Hồ Tây; Trụ sở: 272 Nghi Tàm, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội; Nay đổi tên: Văn phòng công chứng Vũ Dung; Trụ sở: 47 Võ Chí Công, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt) Ngƣời kháng cáo: 1. Bà Vũ Thị Ly 2. Anh Vũ Tuấn 3. Bà Vũ Thị Vi

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, vụ kiện có nội dung nhƣ sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/01/2017 và các lời khai tại Tòa án, các đồng nguyên đơn là ông Vũ Văn Sinh, bà Vũ Thị Ly và người đại diện theo ủy quyền của ông Sinh trình bày:

- Về quan hệ huyết thống: Bố, mẹ các nguyên đơn là cụ Vũ Minh Khai, (chết ngày 29/7/1993) và cụ Trần Thị Ngãi (chết ngày 10/10/2015). Các cụ kết hôn với nhau từ năm 1953 và chung sống với nhau tại tổ 1, thôn Trạm, xã Long Biên, huyện Gia Lâm nay là quận Long Biên, Hà Nội (nay là địa chỉ tổ 13 phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội).

Các cụ Khai và Ngãi sinh được 03 người con là Vũ Văn Sinh, sinh 1955, Vũ Thị Ly, sinh năm 1958, Vũ Thị Vi, sinh năm 1965, không có con riêng, không có con nuôi. Việc bà Vũ Thị Vi khai các cụ Khai có 01 người con riêng với bà Vũ Thị Soi, sinh năm 1950, cư trú tại Ấp Kim Hải, xã Long Xuyên, huyện Châu Thành, Thành phố Bà Rịa, tỉnh Vũng Tàu cùng với trích lục giấy khai sinh của người con riêng này là ông Vũ Minh Hoàng, sinh năm 1976, và 01 người con riêng với bà Nguyễn Thị Giàng ở Bắc Giang không rõ địa chỉ tên là Vũ Minh Tâm, sinh năm 1982 thì các nguyên đơn chỉ công nhận người con riêng Vũ Minh Hoàng là con của cụ Vũ Minh Khai.

Cụ Trần Thị Ngãi và Vũ Minh Khai có để lại tài sản là quyền sử dụng đất và nhà trên đất tại địa chỉ: Tổ 12, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà nội ( Nay là địa chỉ tổ 13, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội) với diện tích 487,2 m2 tại thửa đất số: 317,tờ bản đồ số 6) và đã được Ủy ban nhân dân quận Long Biên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho “Hộ gia đình Bà Trần Thị Ngãi” ngày 09/02/2011.

Tại Bản án phúc thẩm số: 28/2013/DS-PT ngày 28/01/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xét xử về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất,chia tài sản chung giữa cụ Trần Thị Ngãi và cụ Vũ Minh Khai đã xác định ½ diện tích 487,2 m2 đất là 243,6 m2 thuộc về tài sản của cụ Ngãi và ½ là của cụ Khai. Phần của cụ Khai đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, bà Vi vẫn quản lý diện tích đất này của cụ Khai đến nay.

Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án di sản thừa kế của cụ Khai là 243,6 m2 đất mà bà Vi dang quản lý, sử dụng.

Sau khi ông Sinh chết anh Tuấn cũng như bà Hằng vẫn giữ quan điểm như của ông Sinh. Bà Hằng ngày 19/11/2019 có đơn từ chối nhận di sản của ông Sinh được hưởng từ cụ Khai.

Đối với diện tích 243,6 m2 đất của cụ Ngãi thì cụ Ngãi đã được cấp GCN quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số: BO 928861: Số vào sổ cấp GCN: 1666, do UBND quận Long Biên, thành phố Hà Nội cấp ngày 10/10/2013 mang tên Trần Thị Ngãi và cụ Ngãi đã có di chúc cho bà Ly.

* Bị đơn là bà Vũ Thị Vi trình bày:

- Về diện và hàng thừa kế: Bà Vi cũng xác nhận các cụ Khai và Ngãi có 03 người con chung như nguyên đơn khai; ngoài ra cụ Khai còn có 01 người con riêng là ông Vũ Minh Hoàng, sinh năm 1976, hiện ở ấp 3, xã Thừa Đức, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai với bà Vũ Thị Soi và một người con riêng là Vũ Minh Tâm, sinh năm 1982 với bà Nguyễn Cẩm Giàng hiện sinh sổng tại tỉnh Bắc Giang nhưng bà không cung cấp được địa chỉ cụ thể nên bà xác định hàng thừa kế của cụ Khai là các ông bà Sinh, Ly ,Vi và người con riêng là anh Vũ Minh Hoàng.

- Về di sản thừa kế: Bà Vũ Thị Vi xác định tài sản chung của bố mẹ bà có 487,2 m2 đất tại thửa số 317,tờ bản đồ số 6, mỗi người có phần là 243,6 m2. Khi cụ Ngãi còn sống có khởi kiện chia tài sản chung và chia thừa kế của cụ Khai. Sau khi xét xử phúc thẩm phần diện tích 243,6 m2 của cụ Ngãi đã được cấp giấy chứng nhận số 1666 ngày 10/10/2013 mang tên cụ Trần Thị Ngãi. Mẹ bà đã chết ngày 10/10/2015, bà không thừa nhận di chúc do nguyên đơn xuất trình, bà yêu cầu chia phần di sản của cụ Ngãi theo pháp luật.

Do phần diện tích 243,6 m2 đã cấp giấy chứng nhận mang tên cụ Trần Thị Ngãi đã bị bà Vũ Thị Ly bán trái phép cho vợ chồng anh Thắng, chị Hằng nên bà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Ly và anh Thắng-chị Hằng diện tích 125,90 m2 theo hợp đồng chuyển nhượng công chứng ngày 09/3/2015 tại Văn phòng công chứng Lạc Việt, đồng thời bà yêu cầu bà Ly phải trả bằng diện tích đất còn thiếu nếu được chia và không lấy bằng tiền mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Vi đã rút yêu cầu chia thừa kế của cụ Ngãi. Rút yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Ly và anh Thắng, chị Hằng.

Diện tích đất 243,6 m2 là di sản của cụ Khai là bố của bà hiện bà và gia đình đang ở sử dụng mà Tòa án cấp phúc thẩm xác định tại Bản án số 28/2013/DS-PT ngày 28/01/2013 do hết thời hiệu khởi kiện thừa kế và do công sức của hai vợ chồng bà cơi nới tôn tạo chứ không phải có nguồn gốc của các cụ Khai và Ngãi. Bà không nhất trí chia thừa kế phần đất này. * Lời khai của những ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Phước, sinh năm 1957, hiện cư trú tại: Tập thể Z 133, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên. Bà là vợ cũ của ông Vũ Văn Sinh, bà và ông Sinh chỉ có 01 người con duy nhất là anh Vũ Tuấn, bà ly hôn với ông Sinh theo quyết định thuận tình ly hôn số: 82/2005/QĐ-HNGĐ-ST ngày 27/12/2005 của Tòa án ND quận Long Biên, bà xác nhận không có đóng góp gì và không có yêu cầu gì tại thửa đất đang tranh chấp thừa kế.

+ Bà Lê Thu Hằng là vợ của ông Sinh cũng như anh Điệp thống nhất trình bày không có đóng góp hay yêu cầu trong việc hưởng thừa kế, nhất trí với di chúc của ông Sinh và từ chối hưởng phần di sản này, có đơn từ chối hưởng di sản của cụ Khai ngày 19/11/2019 và 06/11/2019 xin vắng mặt tại phiên tòa, để anh Vũ Tuấn hưởng di sản như di chúc.

+ Phía gia đình bà Vũ Thị Ly: là chồng và các con nhất trí như lời khai của bà Ly, không có bất cứ yêu cầu đề nghị gì và xác định không có đóng góp công sức gì đối với di sản của cụ Vũ Minh Khai, đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng, xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Tòa.

+ Phía gia đình bà Vi gồm chồng và các con nhất trí khai: Cả bốn nhân khẩu đang cư trú ở tại các số 249-251 Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên là: Ông Lê Quang Hiển cùng bà Vũ Thị Vi và 02 con: Lê Đức Huy, Lê Đức Lương, khi về ở còn nhỏ chưa đóng góp gì, còn ông Hiển từ Bát Tràng về sinh sống tại đất nhà bà Trần Thị Ngãi đã có nhiều công sức đóng góp tôn tạo chăm nom bà Ngãi thay cho các ông Sinh và bà Ly, ông không nhất trí yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn và đề nghị chia phần của cụ Ngãi theo quy định pháp luật .

+Anh Vũ Minh Hoàng trình bày: Anh là con đẻ của ông Vũ Minh Khai và bà Nguyễn Thị Soi, cha mẹ anh chỉ có anh là con chung ngoài ra không còn người con nào khác. Ông Khai chết năm 1993, khi ông Khai quay lại Bắc thì mẹ anh đang mang thai anh, và khi anh sinh ra không một lần ông Khai quay lại thăm và không biết anh. Mẹ anh chỉ liên lạc qua một người em gái của ông Khai và cũng chưa một lần về quê ông Khai; mẹ anh là người đi làm giấy khai sinh cho anh. Tại buổi làm việc ngày 30/9/2019 tại Tòa án nhân dân quận Long Biên anh xuất trình bản gốc “ Giấy khai sanh” của trung tâm Y tế- Bệnh viện Bà Rịa ngày 29/7/1976 và bản gốc “ Giấy khai sinh” mang tên Vũ Minh Hoàng, sinh ngày 25/7/1976, phần ghi tên người cha là Vũ Minh Khai, sinh năm 1938; Mẹ là: Vũ Thị Soi, sinh năm 1950, nơi sinh: xã Phước Lễ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai.Giấy khai sinh này do UBND xã Long Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 26/6/1986. Lý do anh cung cấp muộn vì mẹ anh mới tìm thấy. Về di sản của bố anh là ông Khai để lại thì anh không biết gồm những tài sản gì, anh không biết có bản di chúc nào hay không, anh cũng không thăm nom hay thư từ quan hệ gì với cụ Ngãi là người vợ của ông Khai. Anh có yêu cầu nếu Tòa án phân chia di sản thì anh đề nghị chia theo pháp luật, nếu anh được hưởng thì phần của anh sẽ cho bà Vũ Thị Vi. Anh cũng làm giấy ủy quyền cho bà Vi thay mặt anh giải quyết tại Tòa án, anh xin vắng mặt tại các buổi hòa giải, công khai chứng cứ, xét xử. Ngoài ra anh cũng nhất trí tự nguyện làm xét nghiệm ADN theo ý kiến của bà Vi để xác định chính xác anh có quan hệ huyết thống theo dòng bố anh là cụ Vũ Minh Khai. + Lời khai của vợ chồng anh Thắng chị Hằng: Anh chị về ở số nhà 253B đường Bát Khối, phường Long Biên xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng mua bán 125,9 m2 đất có nguồn gốc của cụ Ngãi và có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Vũ Thị Ly, hợp đồng có công chứng hợp lệ ngày 09/3/2015, sau đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/3/2015 của UBND quận Long Biên vào sổ số: BX 585645 và anh chị được cấp giấy phép xây dựng số 1096 ngày 04/6/2015 do UBND quận Long Biên cấp, trong quá trình cấp giấy chứng nhận và xây dựng không có ai hay bất kỳ lý do nào khiếu nại cản trở việc cấp sổ hay xây dựng, hiện anh chị cùng các con chung ở đây không tranh chấp với ai, việc gia đình nhà bà Ly và bà Vi tranh chấp là việc nội bộ. Anh chị không có yêu cầu gì, và xin không tham gia các buổi làm việc tiếp theo tại tòa, từ chối tham gia hòa giải hay xét xử.

* Tài liệu chứng cứ của Ủy ban nhân dân phường Long Biên:

+ Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất đối với thửa đất số: 317, tờ bản đồ số 6 tại tổ 12 phường Long Biên như sau: Bản đồ 1973, năm 1986 và các năm 1993-1996 về thửa đất số 317; tờ bản đồ số 6, tổ 12 diện tích 484 m2; có năm ghi diện tích 420 m2, và kèm Sổ lập kèm bản đồ đo vẽ năm 1993 đều mang tên người sử dụng là cụ Trần Thị Ngãi. Tại thửa đất này nguồn gốc là của hộ gia đình cụ Ngãi nhận chuyển nhượng của cụ Trần Thị Tuấn trước năm 1962 không có giấy tờ. Cụ Khai chết năm 1993 không để lại di chúc, gia đình cụ Ngãi sử dụng đến năm 2012 phát sinh tranh chấp, vụ việc này đã được Tòa án nhân dân quận Long Biên xét xử ngày 18/9/2012 theo bản án số 05/2012/DSST, sau đó bản án có kháng cáo nên Tòa án NDTP Hà nội xét xử phúc thẩm ngày 28/01/2013 tại bản án số: 28/2013/DSPT và quyết định cụ Ngãi hưởng 243,6 m2, một nửa phần còn lại là 243,6 m2 bị đình chỉ giải quyết là 243,6 m2 ( Là di sản của cụ Khai đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế. Sau khi được chia đất cụ Ngãi đã làm thủ tục kê khai và được UBND quận long Biên cấp giấy chứng nhận ngày 10/10/2013 thửa 317(1), tờ 6, diện tích 243,6 m2, mục đích đất ở sử dụng đô thị, số phát hành: BO 922861, số vào sổ 1666.

Ngoài ra phía cơ quan UBND phường Long Biên cung cấp: Diện tích đất hiện còn lại 243,6 m2 chưa cấp sổ, hiện do bà Vũ Thị Vi đang quản lý sử dụng, có một phần phù hợp quy hoạch và 01 phần không phù hợp quy họach và là đất đường giao thông.

Tài liệu UBND phường cho biết hiện chưa thành lập công tác giải phóng mặt bằng và đây mới là kế hoạch dự kiến của UBND Thành phố Hà Nội, hiện cũng chưa có thông báo thu hồi, quy hoạch chưa rõ diện tích và chỉ căn cứ vào “Bản đồ quy hoạch sử dụng đất và giao thông theo bản đồ N 10, vị trí đất không phù hợp quy hoạch đất ở nằm ở tiếp giáp đường ven chân đê hướng Đông Nam của thửa đất, phía tiếp giáp đường Bát khối (thuộc thửa đất bà Vi đang có tranh chấp). Diện tích đất 243,6 m2 mà bà Vi đang quản lý sử dụng không có sự cơi nới lấn chiếm, bà Vi chỉ có cải tạo sửa chữa nhà cấp 4 sát mặt đường Bát Khối nhưng đã bị UBND phường cưỡng chế tháo dỡ trả lại hiện trạng ban đầu, việc cải tạo cơi nới này không có phép. + Văn phòng công chứng Ba Đình (nay là văn phòng công chứng Tạ Hiền); Văn phòng công chứng Hồ Tây (nay là văn phòng công chứng Vũ Dung; Văn phòng công chứng Lạc Việt: Đều có ý kiến khẳng định việc công chứng tặng cho, hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên đúng thủ tục quy định, hợp pháp, các bên giao dịch có đầy đủ nặng lực hành vi, tự nguyện và không bị ép buộc; đối tượng của giao dịch có đầy đủ giấy tờ chứng minh là tài sản của bên tặng cho và chuyển nhượng, tài sản tặng cho và chuyển nhượng đều không bị thế chấp, hay có nợ nần liên quan đến nghĩa vụ nào của bên tặng cho hay chuyển nhượng; đề nghị vắng mặt khi tòa án hòa giải, xét xử.

Bản án sơ thẩm số 120/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bên nguyên đơn là anh Vũ Tuấn thừa kế quyền lợi cho ông Vũ Văn Sinh, bà Vũ Thị Ly, bên nguyên đơn có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mình về diện tích được phân chia từ di sản của cụ Vũ Minh Khai

2/ Đình chỉ toàn bộ các yêu cầu của Bà Vũ Thị Vi trong vụ án này đối với yêu cầu chia di sản của cụ Trần Thị Ngãi và yêu cầu hủy các hợp đồng tặng cho của cụ Ngãi với bà Ly ;đình chỉ yêu cầu hủy di chúc ngày 03/6/2015 của Văn phòng công chứng Lạc Việt đối với di chúc của cụ Trần Thị Ngãi, cũng như đình chỉ yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Vũ THị Ly với vợ chồng anh Vũ Đình Thắng- Trần Thị Hằng. Bác yêu cầu của bà Vi cho rằng diện tích 243,6 m2 không phải là di sản của cụ Vũ Minh Khai. Bà Vũ Thị Vi có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà theo diện tích mà Tòa án đã phân chia từ di sản thừa kế của bố đẻ của bà là cụ Vũ Minh Khai

3/ Xác nhận di sản thừa kế trong vụ án này là di sản của cụ Vũ Minh Khai là diện tích 244,6 m2 đất thuộc một phần diện tích của thửa 317, tờ bản đồ số 6 tổ 13 cũ phường Long Biên nay là địa chỉ số nhà 249 và số 251 đường Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Khai trong vụ án này là: Bà Ngãi( vợ cụ Khai); ông Vũ Văn Sinh( đã chết có anh Vũ Tuấn là con đẻ của ông Sinh thừa kế) và bà Vũ Thị Ly; bà Vũ Thị Vi; anh Vũ Minh Hoàng.

4/ Diện tích phân chia , đặc điểm phân chia di sản theo bản án đối với các số nhà 249- số 251 Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội cụ thể như sau( Có kèm sơ đồ phân chia cùng diện tích cho các đồng thừa kế)như sau:

+ Phần thứ 1 của bà Vũ Thị Vi ( Bao gồm 02 phần của bà Vi và anh Hoàng) với tổng diện tích 99,91 m2. Thửa đất của bà Vi được phân chia về tứ cận như sau: Bắt đầu từ cạnh bên trái đứng từ đường Bát khối nhìn vào thửa đất của số nhà 249 Bát Khối,thửa đất của bà Vũ Thị Vi có mặt tiền hướng tây giáp đường Bát Khối chiều rộng 4,34 m; 1 cạnh giáp thửa đất chia cho anh Tuấn chạy sâu hết thửa đất giáp anh Tuấn có chiều dài: 22,76 m; phần hậu của thửa đất có chiều rộng 4,40 m giáp nhà anh Tấn, bà Giá; cạnh bên tay trái đứng từ ngoài nhìn váo thửa đất của số nhà 249 giáp nhà cô Hoa dài 22,63m.

+ Phần thửa đất chia cho anh Tuấn là phần thứ 2,tiếp theo giáp với thửa chia cho bà Vũ Thị Vi, có diện tích 48,32 m2. Gồm mặt tiền của thửa đất hướng tây giáp đường Bát Khối rộng: 2,15 m; cạnh bên trái đứng từ đường Bát Khối nhìn vào giáp với thửa của bà Vi dài hết 22,76 m; cạnh hậu của thửa đất giáp với thửa đất nhà anh Tấn, bà Giá có chiều rộng 2,15 m; cạnh bên tay phải của thửa đất đứng từ đường Bát Khối nhìn vào giáp với thửa đất chia cho bà Ly dài 22,82m.

+ Phần thửa đất còn lại, phần thứ 3 chia cho bà Vũ Thị Ly có diện tích 96,37 m2: mặt tiền hướng tây giáp đường Bát Khối rộng 4,22m, cạnh bên tay trái của thửa đất đứng từ đường Bát Khối nhìn vào giáp với thửa chia cho anh Tuấn chạy sâu 22,82m; cạnh hậu của thửa đất giáp với thửa đất nhà anh Tấn và bà Giá có chiều rộng 4,22m; cạnh bên tay phải đứng từ đường Bát Khối nhìn vào giáp với số nhà 253b Bát Khối có chiều dài 22,93 m

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/12/2019 bà Ly và anh Vũ Tuấn có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm đánh giá, xem xét chưa khách quan dẫn đến việc xét xử chưa đảm bảo đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của các đươcng sự.

Ngày 05/12/2019, bà Vi có kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ chứng cứ, nhận định thiếu khách quan dẫn đến xét xử thiếu công bằng, xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của bà.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, anh Vũ Minh Tâm, sinh năm 1985 có địa chỉ tại: Xóm Tân Hưng, thôn Bảo An, xã Hoàng An, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xuất trình giấy khai sinh của anh ghi tên bố là Vũ Minh Khai, mẹ là Nguyễn Thị Giàng và có lời khai khẳng định anh là con riêng của cụ Khai. Anh Tâm đề nghị được tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đề nghị được hưởng thừa kế của cụ Khai theo luật.

Bà Vi có yêu cầu giám định gien để xác định quan hệ huyết thống giữa anh Tâm và cụ Khai.

Kết luận giám định ADN số HT26420/PY-XN ngày 04/11/2020 của Viện Pháp y quân đội kết luận: “Anh Vũ Minh Tâm và anh Vũ Tuấn (cháu nội ông Vũ Minh Khai) có quan hệ huyết thống theo dòng bố”.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bà Ly và anh Vũ Tuấn đề nghị không chấp nhận anh Hoàng và anh Tâm là con đẻ của cụ Khai vì theo Kết luận giám định chỉ xác định anh Hoàng và anh Tâm có quan hệ huyết thống theo dòng bố chứ không xác định anh Hoàng và anh Tâm là con cụ Khai trong khi cụ Khai có ba anh em trai; bản án sơ thẩm chia hiện vật cho anh Tuấn diện tích đất có chiều rộng 2,15 m là chưa đủ tiêu chuẩn để xin cấp giấy chứng nhận và khó khăn trong việc sử dụng; đề nghị Tòa án xem xét lại bản án sơ thẩm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

Anh Tâm đề nghị Tòa án xác định anh là con đẻ cụ Khai và đề nghị tham gia tố tụng vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để hưởng thừa kế của cụ Khai.

Ông Hiển chồng bà Vi đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; nếu phải chia thừa kế của cụ Khai thì đề nghị trích công sức cho gia đình ông trong việc tôn tạo, duy trì và phát triển đất; đề nghị chia toàn bộ hiện vật cho gia đình ông, gia đình ông sẽ thanh toán cho các thừa kế khác bằng tiền.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Vũ Tuấn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Tuấn và bà Ly.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Vi đề nghị xác định anh Tâm là con cụ Khai nên anh Tâm là hàng thừa kế thứ nhất của cụ Khai; nếu phải chia thừa kế di sản của cụ Khai thì đề nghị trích công sức tôn tạo, duy trì đất cho gia đình bà Vi hợp lý.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t tham gia phiªn toµ ph¸t biÓu ý kiÕn:

VÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt tè tông trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña nh÷ng ng êi tham gia tè tông d©n sù kÓ tõ khi thô lý vô ¸n ®Õn tr íc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n: Qu¸ tr×nh tiÕn hµnh tè tông ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö ®· thùc hiÖn ®Çy ®ñ thñ tôc theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt. Các đương sự chÊp hµnh tốt quyền và nghĩa vụ tố tụng theo ph¸p luËt tè tông d©n sù.

- VÒ néi dung vô ¸n: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện VKS đề nghị: Kết quả giám định gien chưa rõ nghĩa, chưa khẳng định anh Tâm có phải con đẻ cụ Khai không? Đơn có ý kiến xác nhận của bà Mở em cụ Khai do bà Vi xuất trình chưa có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về chữ ký của những người này nên chưa có căn cứ cho rằng có phải của họ hay không. Việc xác định anh Tâm có phải con cụ Khai không tại phiên tòa phúc thẩm không thể giải quyết ngay được. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Tòa án quận Long Biên giải quyết lại từ giai đoạn sơ thẩm, đưa anh Tâm tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm rõ anh Tâm có phải con đẻ cụ Khai hay không?

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

1. Về người tham gia tố tụng: Xét yêu cầu của bà Vi và anh Tâm đề nghị đưa anh Tâm tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Xét thấy, căn cứ vào Kết luận giám định ADN của Viện Pháp y quân đội thì anh Vũ Minh Tâm có quan hệ huyết thống theo dòng bố với anh Vũ Tuấn là cháu nội cụ Khai nên có khả năng anh Tâm là con đẻ của cụ Khai. Đây là tình tiết mới của vụ án. Việc xác định anh Tâm có phải là con cụ Khai hay không có ý nghĩa trong việc xác định chính xác hàng thừa kế của cụ Khai. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của anh Tâm và bà Vi: Đưa anh Tâm tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Để đảm bảo quyền tham gia tố tụng từ giai đoạn sơ thẩm của anh Tâm cần phải hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về Toà án quận Long Biên giải quyết lại từ giai đoạn sơ thẩm. Khi giải quyết lại sơ thẩm cần làm rõ Kết luận giám định ADN về “có quan hệ theo dòng bố” thì anh Tâm có phải con đẻ cụ Khai hay không? Nếu theo Kết luận Giám định mà chưa xác định được anh Tâm là con đẻ cụ Khai thì cần xác minh về mối quan hệ trên thực tế giữa cụ Khai với bà Nguyễn Thị Giàng là mẹ đẻ anh Tâm đẻ từ đó có căn cứ xác định về mối quan hệ giữa cụ Khai và anh Tâm.

2. Về nội dung vụ án:

2.1. Bản án sơ thẩm xác định di sản của cụ Vũ Minh Khai là quyền sử dụng diện tích 244,6 m2 đất thuộc thửa 317, tờ bản đồ số 6 tổ 13 (cũ) phường Long Biên, nay là địa chỉ số nhà 249 và số 251 đường Bát Khối, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội là có căn cứ.

Cụ Khai chết không để lại di chúc nên bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật của các đồng nguyên đơn là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, việc gia đình bà Vũ Thị Vi đã ở trên diện tích đất này từ năm 2001cho đến nay và có nhiều công sức trong việc tôn tạo, duy trì và phát triển đất. Do đó, trước khi chia thừa kế của cụ Khai theo pháp luật cần trích công sức hợp lý cho gia đình bà Vi.

Bản án sơ thẩm lấy giá trị các công trình xây dựng của bà Vi trên đất tranh chấp trị giá 123.982.367,79 đ để quy ra bằng 2,07 m2 đất và xác định 2,07 m2 đất này là công sức của bà Vi là không đúng vì giá trị tài sản này là của gia đình bà Vi chứ không phải là công sức của gia đình bà Vi trong việc tôn tạo, duy trì và làm tăng giá trị đất của gia đình bà Vi. Do đó, khi giải quyết lại sơ thẩm vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét, giải quyết về công sức của gia đình bà Vi cho phù hợp.

2.2. Về việc chia hiện vật: Việc bản án sơ thẩm chia hiện vật cho anh Tuấn là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Sinh diện tích đất có chiều rộng 2,15 mét là chưa đảm bảo quy định của pháp luật đề tách thửa, khó khăn trong việc sử dụng đất của anh Tuấn. Do vậy, khi giải quyết lại vụ án cấp sơ thẩm cần lưu ý đến nhu cầu sử dụng đất của các đương sự và hiện trạng sử dụng đất để chia hiện vật cho các đương sự cho phù hợp.

Bởi các lẽ trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bà Ly, bà Vi và anh Tuấn; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Hủy bản án sơ thẩm số 120/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án quận Long Biên; giao hồ sơ vụ án về Tòa án quận Long Biên để giải quyết, xét xử lại từ sơ thẩm theo thủ tục chung theo nhận định trên.

3. Về án phí DSPT: Do hủy bản án sơ thẩm nên các đương sự có kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Bởi các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2019/DS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Long Biên.

2. Giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân quận Long Biên để giải quyết, xét xử lại từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung.

3. Về án phí DSPT: Bà Ly, bà Vi và anh Tuấn mỗi người được hoàn lại 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại các BL thu tiền số 0015850; 0015849 cùng ngày 19/12/2019 và BL thu tiền số 0015819 ngày 16/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật để thi hành kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ