vanban.org

Bản án 465/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi qu…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 465/2025/HS-ST
Ngày: 30/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Quốc Hưng – Giáo viên trường Cao

Đẳng Kỹ Thuật Hải Quân

2. Bà Võ Thị Gái

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Trí – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 392/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 459/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Quốc T; Sinh ngày 06/8/2001, tại tỉnh Tây Ninh; Giới tính: Nam; Thường trú và nơi ở hiện nay: Khu phố 3, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Ảo T1 và bà Nguyễn Thị G; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con út; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Em Trần Thị Yến N, sinh ngày 08/4/2010 (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: 86/10F, ấp Đông 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người giám hộ: Ông Trần Văn B là cha ruột. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại : Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Trần Văn Nam và Luật sư Lê Hà Long Vân. (Luật sư Nam có đơn xin vắng mặt; luật sư Vân có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/10/2024, bà Nguyễn Thị T2 hợp đồng với Trần Quốc T dùng xe ô tô chở gia đình chị T2 đi công việc tại thị xã Trảng Bàng. Sau khi xong việc thì đến địa chỉ 86/10F, ấp Đông 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn đón trẻ Trần Thị Yến N (sinh ngày 08/4/2010). Trẻ Nhiên là con trước của chồng chị T2 rồi tiếp tục đi công việc nhiều nơi trong Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, T chở gia đình chị T2 đến Vũng Tàu để vui chơi. Đến 19 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, T chở gia đình chị T2 đến đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh để đón ông Trần Văn B (là cha ruột của trẻ N). Sau đó, gia đình chị T2 và T đến sạn Su Su Anh địa chỉ số 72, Đường 17, phường Hiệp Bình Chánh, thành phố Thủ Đức để thuê phòng lưu trú.

Sau khi nhận phòng, T chở cả nhà chị T2 đi ăn đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 06/10/2024 thì về lại nhà nghỉ, N đi theo T vào phòng số 4 (Phòng của T lưu trú), T có nói với N “Đi lên đi không cha la” thì N đi về phòng. Khoảng 20 phút sau, N gõ cửa phòng T, T mở cửa và nói “xuống chi nữa vậy”, N đáp: “Ba mẹ đang nói chuyện gì nên em đi xuống” rồi N đi vào phòng. Khi vào phòng N ngồi trên ghế gỗ, T nằm trên giường chơi game trên điện thoại được một lúc thì N tiến lại gần xin mượn điện thoại của T để chơi game, sau đó khoảng 05 phút thì N trả lại điện thoại và ngồi dựa lưng vào tường nằm chơi điện thoại của N. T lấy lại điện thoại nằm coi Tiktok. Lúc này, N kêu lạnh nên T đưa mền cho N đắp, N nói mỏi lưng và nằm xuống trên giường cách T khoảng 50cm. T hỏi “Sao không lên đi”, N nói “Mẹ còn thức nói chuyện với ba” rồi T nằm ngủ, N nói “ủa rồi ngủ rồi hả” thì T thức dậy.

Đến khoảng 04 giờ 00 cùng ngày, N đang nằm bên phải T thì T nghiêng người quàng tay trái ôm N, hôn vào má, dùng tay trái luồn vào trong áo sờ ngực của N, rồi sau đó cởi quần của N ra còn dính lại một ống quần vào cổ chân, để lộ ra bộ phận sinh dục của N. T dùng tay sờ vào mu, dùng ngón tay giữa bàn tay trái móc vào âm đạo của N và hẩy tay nhẹ nhẹ. Được một lúc thì N nói “Thôi được rồi thả em ra đi không em méc mẹ đó” nên T rút ngón tay ra khỏi âm đạo và để N ra khỏi phòng. Sự việc sau đó được ông Trần Văn B trình báo cho Công an phường Hiệp Bình Chánh.

Ngày 22/10/2024 Cơ quan điều tra thu thập Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 133/KLTDTE-TTPY.2024 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

+ Màng trinh: Dãn. Không rách.

+ Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.

+ Không hiện diện ADN người nam trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng trong vụ án:

- 01 kẹp tóc nữ màu trắng, dính vài sợi tóc.

- 01 áo thun nữ ngắn tay màu xám.

- 01 quần dài thun màu xám.

- 01 quần lót nữ màu xanh rêu nhạt.

Về dân sự, bồi thường thiệt hại: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng. Người giám hộ của trẻ Trần Thị Yến N là ông Trần Văn B không yêu cầu bồi thường và có đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (Bút lục số 87).

Cáo trạng số: 204/CT-VKSTPTĐ ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Trần Quốc T về tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường, bị hại và người giám hộ không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ khai báo thành khẩn, nhận tội, ăn năn hối cải và xin xem xét được mức án thấp nhất để có điều kiện chăm sóc cho gia đình.

- Luật sư Lê Hà Long Vân trình bày: tôi thống nhất với tội danh, định khung, tình tiết giảm nhẹ do Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố đối với Trần Quốc T. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo và gia đình đã thực hiện bồi thường cho bị hại nên thể hiện bị cáo đã ăn năn hối cải, khắc phục thiệt hại và gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo Trần Quốc T tại phiên tòa phù hợp với chính các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại; Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 133/KLTDTE-TTPY.2024 ngày 22/10/2024 của Trung tâm pháp y Thành phố Hồ Chí Minh và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 06/10/2024, bị cáo Trần Quốc T là người trên 18 tuổi đã có hành vi sử dụng ngón tay móc vào âm đạo của trẻ Trần Thị Yến N. Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 06/10/2024, trẻ Trần Thị Yến N sinh ngày 08/4/2010 được 14 tuổi, 05 tháng, 28 ngày nên đã cấu thành tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Cáo trạng số 204/CT-VKSTPTĐ ngày 26/3/2025 truy tố đối với bị cáo Trần Quốc T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, khi phạm tội tuổi đời còn trẻ, trình độ học vấn không cao nên nhận thức về pháp luật và khả năng kiềm chế bản thân có phần hạn chế, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực tác động gia đình tự nguyện thực hiện việc bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng, gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo Trần Quốc T là người đã trưởng thành, có đủ điều kiện để hiểu biết và chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Trong vụ án này: Mặc dù có sự tự nguyện của bị hại nhưng khi Trần Quốc T thực hiện hành vi giao cấu thì bị hại Trần Thị Yến N mới chỉ được 14 tuổi 5 tháng 28 ngày, nên Trần Quốc T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Hành vi của Trần Quốc T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý (sức khỏe tình dục) của trẻ em được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 kẹp tóc nữ màu trắng, dính vài sợi tóc; 01 áo thun nữ ngắn tay màu xám; 01 quần dài thun màu xám; 01 quần lót nữ màu xanh rêu nhạt là vật chứng liên quan tới vụ án nhưng không phải là tài sản của bị cáo mà là tài sản của bị hại. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị hại cũng không có yêu cầu nhận lại tài sản. Xét các vật chứng là các vật dụng cá nhân đã qua sử dụng, hiện nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 8.000.000 đồng, đại diện cho bị hại có Đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận toàn bộ.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tịch thu tiêu hủy 01 kẹp tóc nữ màu trắng, dính vài sợi tóc; 01 áo thun nữ ngắn tay màu xám; 01 quần dài thun màu xám; 01 quần lót nữ màu xanh rêu nhạt.

(Theo Phiếu nhập kho số NK25/261C ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ