vanban.org

Bản án 465/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:465/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06/04/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bùi Diệu Huệ;

2. Bà Lê Thị Tý.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Tuyết Mai – Là thư ký Tòa án nhân dân

quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: ông Trần Quang Minh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

1685/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022, về việc “tranh chấp ly

hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24

tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-HNGĐ

ngày 16 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Hà Thị Linh T, sinh năm: 1987; thường trú: 101/B, Ấp

T, xã Tân Q, huyện Thanh B, tỉnh Đ T; tạm trú: 128/20 tổ 20, khu phố Bình P,

phường Bình C, thành phố T A, tỉnh B D.

Bà Hà Thị Linh T có đơn yêu cầu vắng mặt.

2. Bị đơn: ông Võ Vũ Ph, sinh năm: 1981; thường trú: 101/B Ấp Tr, xã

Tân Q, huyện Th B, tỉnh Đ Th; tạm trú: số 10 cầu K, Tân T A, quận B T, Thành

phố H.

Ông Võ Vũ Ph vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án

có nội dung như sau:

Nguyên đơn bà Hà Thị Linh T trình bày: bà và ông Võ Vũ Ph có thời gian

quen biết và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008 có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 do Ủy ban nhân dân xã S N, huyện Đ L, tỉnh B Th cấp ngày 21 tháng 02 năm 2008.

Quá trình chung sống: bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph chung sống

hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà và ông Võ Vũ Ph sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Vũ Ph.

Về con chung: trong quá trình chung sống bà và ông Võ Vũ Ph có 01

(một) con chung tên Võ Hà Ngọc H (nữ), sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng

con chung Võ Hà Ngọc H (nữ), không yêu cầu ông Võ Vũ Ph cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà xác định không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nợ chung: bà xác định không có.

Bị đơn ông Võ Vũ Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ

án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để ông đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng ông Võ Vũ Ph vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Bà Hà Thị Linh T có đơn yêu cầu vắng mặt;

- Ông Võ Vũ Ph vắng mặt không lý do;

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời hạn chuẩn bị

xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ nội dung quy định về thụ lý, thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và đúng trình tự tố tụng quy định tại các Điều 196, 204, 205, 209, 210, 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc giao hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa tuân thủ đúng quy định tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu

cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm

tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Hà Thị Linh

T và ông Võ Vũ Ph có đăng ký kết hôn, bà Hà Thị Linh T yêu cầu ly hôn với

ông Võ Vũ Ph nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của

Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có cư trú tại quận Bình

Tân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về thủ tục tố tụng: bị đơn ông Võ Vũ Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; Nguyên đơn

bà Hà Thị Linh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, điểm b Khoản 2 Điều

227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn 09 do Ủy ban nhân dân xã S N, huyện Đ

L, tỉnh B Th cấp ngày 21 tháng 02 năm 2008 cấp cho bà Hà Thị Linh T và ông

Võ Vũ Ph cùng lời khai của bà Hà Thị Linh T về việc các đương sự tự nguyện

kết hôn với nhau, nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Hà Thị Linh T và

ông Võ Vũ Ph là hôn nhân hợp pháp.

Bị đơn ông Võ Vũ Ph đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết

vụ án mà không có lý do và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án thể hiện ý

kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do vậy Tòa án căn cứ

vào các chứng cứ và lời khai do nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ

án.

Về quan hệ hôn nhân: bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph chung sống

hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu

thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói

chung từ đó dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Bà Hà Thị Linh T và ông

Võ Vũ Ph không chung sống với nhau từ tháng 2016 đến nay. Do bà Hà Thị

Linh T không còn tình cảm với ông Võ Vũ Ph, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho

bà được ly hôn với ông Võ Vũ Ph. Ông Võ Vũ Ph vắng mặt tại tất cả những

buổi làm việc, phiên hòa giải, công khai chứng cứ do Tòa án tiến hành và tại

phiên tòa xét xử vụ án, mặc dù ông Võ Vũ Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để giải quyết vụ án, ông cũng không có ý kiến về việc bà Hà Thị Linh T yêu cầu ly hôn gửi đến Tòa án. Cho thấy, ông Võ Vũ Ph không có thiện chí hàn gắn gia đình và không còn yêu thương, tôn trọng bà Hà Thị Linh T, không quan tâm đến hôn nhân của ông bà. Mặt khác, bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph không còn chung sống với nhau từ năm 2016. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau”, “Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau...” và Điều 56 quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Như vậy, bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng là không chung sống, thương yêu, tôn trọng, quan tâm đến nhau.

Từ những nhận định nêu trên, căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51 và khoản

1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hà Thị Linh T đối với ông Võ Vũ Ph.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: bà Hà Thị Linh T và

ông Võ Vũ Ph có 01 (một) con chung tên Võ Hà Ngọc H (nữ), sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008. Bà Hà Thị Linh T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ Hân và không yêu cầu ông Võ Vũ Ph cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Võ Vũ Ph đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, điều này chứng tỏ ông không quan tâm đến hôn nhân giữa ông và bà Hà Thị Linh T cũng như không quan tâm đến yêu cầu về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung Võ Hà Ngọc H cho bà Hà Thị Linh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Thị Linh T không yêu cầu ông Võ Vũ Ph cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà Hà Thị Linh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: bà Hà Thị Linh T xác định không có nên không xem xét.

. Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội

đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Hà Thị Linh T phải chịu án phí theo

quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1

Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm a điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều

266, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82,

Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa

án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Linh T về việc xin ly hôn

với ông Võ Vũ Ph.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Hà Thị Linh T được ly hôn với ông Võ Vũ

Ph.

Giấy chứng nhận kết hôn số 09 do Ủy ban nhân dân xã S N, huyện Đ L,

tỉnh B Th cấp ngày 21 tháng 02 năm 2008 cho bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ

Ph không còn giá trị.

1.2. Về con chung: bà Hà Thị Linh T và ông Võ Vũ Ph có 01 (một) con

chung tên Võ Hà Ngọc H (nữ), sinh ngày 13 tháng 4 năm 2008.

Giao trẻ Võ Hà Ngọc H cho bà Hà Thị Linh T được trực tiếp chăm sóc,

nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện của bà Hà Thị Linh T

không yêu cầu ông Võ Vũ Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Võ Vũ Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản

trở. Vì lợi ích của con Tòa án có thể quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi

con khi có yêu cầu của cha, mẹ; thay đổi quyền nuôi con của bà Hà Thị Linh T

khi bà Hà Thị Linh T, ông Võ Vũ Ph hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền yêu

cầu.

Bà Hà Thị Linh T có quyền yêu cầu ông Võ Vũ Ph thực hiện nghĩa vụ

theo quy định tại điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia Đình năm 2014; yêu cầu

ông Võ Vũ Ph cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của

mình.

Bà Hà Thị Linh T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông

Võ Vũ Ph trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

1.3. Về tài sản chung: bà Hà Thị Linh T không yêu cầu Tòa án giải quyết

nên không xem xét.

1.4. Về nợ chung: bà Hà Thị Linh T xác định không có nên không xem

xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm

nghìn đồng) bà Hà Thị Linh T phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà Hà Thị Linh T đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0009884 ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, bà Hà Thị Linh T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ