- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truong Hai V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Hải V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 465/2017/HSST Ngày 31/10/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hướng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Doãn Đức
2. Ông Huỳnh Phi Hổ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Pha ̣m Đinh Cảnh – Kiểm sát viên.
̀
Ngày 31 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 460/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Trƣơng Hải V, sinh năm 1997 tại Đồng Nai
HKTT: 229D/3, ấp Tam Hòa, xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Làm thuê
Trình độ học vấn: lớp 10/12
Con ông Trương Hải Đ , sinh năm 1965 và bà Đặng Thị M , sinh năm 1966.
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị bắt ngày 16/6/2017.
* Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ li ên quan: Ông Trương Hải Đ , sinh năm 1965
Đi ̣a chi: 229D/3, ấp Tam Hòa, xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hỏ
̀a, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo và ông Đ đều có mặt)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Trương Hải V bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trương Hải V là người sử dụng ma túy và có quen biết với tên Ty (không rõ lai lịch, đi ̣a chỉ). Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 16/6/2017, Phạm T điê ̣n thoa ̣i cho Ty để hỏi mua 10 viên ma túy tổng hợp vớ i giá 2.500.000đ. Ty đồng ý và hẹn T đợi ở quán Bar Tiptop , thuô ̣c khu phố 7, phườ ng Thống Nhất , TP. Biên Hòa, Đồng Nai.
Khoảng 00 giờ 40 phút cùng ngày, Ty điê ̣n thoa ̣i cho V để nói với V đến chân cô ̣t điê ̣n ở chợ nhỏ Hãng Dầu, thuô ̣c phườ ng Quyết Thắng , TP. Biên Hòa để lấy 10 viên ma túy tổng hợp mang đế n quán Bar Tiptop bá n cho T vớ i giá 2.500.000đ thi V đồng ý. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 16/6/2017, V điều khiển
̀ xe mô tô biển số 60V6-2630 mang 10 viên ma túy tổng hợp đến quán Bar Tiptop giao cho T. Khi V vừ a giao ma túy và nhâ ̣n của T số tiền 2.500.000đ thi bi ̣ Công
̀ an bắt quả tang.
Tang vật thu giữ gồm:
+ 10 viên ma túy tổng hợp.
+ 2.500.000đ là số tiền mua bán ma túy.
+ 01 điện thoại di động hiệu Mobistar, số Imeil: 3522.4480.2645.6805, số thuê bao 0915.923.473 và 0963.209.981 sử dụng vào việc phạm tội. 01 điê ̣n thoại di động hiệu Coolpal, không có số thuê bao của V không sử du ̣ng vào viê ̣c phạm tội.
+ 01 xe mô tô biển số 60V6-2630 của ông Trương Hải Đ (cha của bi ̣ cáo V).
+ 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Iphone của Pha ̣m T.
Tại Kết luận giám định số 230/PC54-GĐMT ngày 09/07/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu M được niêm phong gử i đến giám định có trọng lượng 3,5560g có MDMA.
Tại bản cáo trạng số 468/CT/VKS-HS ngày 27/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Trương Hải V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 – BLHS để xử phạt bị cáo V mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Mobistar, số Imeil: 3522.4480.2645.6805, số thuê bao 0915.923.473 và 0963.209.981 sử dụng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu huỷ toàn bộ trọng lượng ma túy còn lại sau giám định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả giám định, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 16/6/2017, tại quán Bar Tiptop , thuô ̣c khu phố 7, phườ ng Thống Nhất , TP. Biên Hòa, Đồng Nai bị cáo Trương Hải V có hành vi bán cho Phạm T mô ̣t lần 10 viên ma túy tổng hợp có tro ̣ng lượng 3,5560g MDMA với giá 2.500.000đ thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Hải V đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý mà còn đe doạ nghiêm trọng đến an toàn trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của cộng đồng cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.
̀
Về vật chứng của vụ án:
+ 01 gói đã được niêm phong sau giám định số 230 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai cần tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với số tiền 2.500.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Mobistar, số Imeil: 3522.4480.2645.6805, số thuê bao 0915.923.473 và 0963.209.981 bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô biển số 60V6-2630 của ông Trương Hải Đ (cha của bị cáo V) khi V sử du ̣ng pha ̣m tô ̣i ông Đ không biết, 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Iphone của Pha ̣m T không sử du ̣ng vào viê ̣c pha ̣m tô ̣i nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đa trã ̉ la ̣i cho ông Đ và anh T là phù hợp. 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Coolpal, không có số thuê bao của bi ̣ cáo V không sử du ̣ng vào viê ̣c pha ̣m t ội nên cần trả lại cho bị cáo V.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Hải V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Hải V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2017.
3. Áp dụng Điều 41, 42 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 gói đã được niêm phong sau giám định số 230 ngày 19/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai .
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.500.000đ (hai triê ̣u năm trăm nghìn đồng ) và 01 điện thoại di động hiệu Mobiistar, số Imeil: 3522.4480.2645.6805, số thuê bao 0915.923.473 và 0963.209.981.
+ Trả lại cho bị cáo Trương Hải V 01 (mô ̣t) điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng hiê ̣u Coolpal (không có sim, Imel không xác đi ̣nh).
(Toàn bộ v ật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa quản lý - Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/10/2017 và Biên lai thu tiền số 009508 ngày 03/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo V phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo và ông Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, NCQLNVLQ; -VKSND thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Hƣớng |