vanban.org

Bản án 463/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bị cáo Lý Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Lý Xuân S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Xuân S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bị cáo Lý Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 463/2021/HS-ST
Ngày: 21/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Đức Tươi

Ông Nguyễn Khắc Thái Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hoài – Thư ký TAND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 464/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 497/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Xuân S, sinh năm 1966 tại tỉnh Thái Nguyên; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ 4, phường H, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/10 ; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Viết T (đã chết); Con bà: Diệm Thị H (đã chết); Vợ: Trần Thị Đào (đã ly hôn); Có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000. Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐXPVPHC ngày 25/8/2003 của Công an phường Cam Giá, thành phố Thái Nguyên xử phạt 50.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản". Ngày 26/8/2003 thi hành xong tiền phạt.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145/QĐ - XPHC ngày 08/11/2010 của Công an phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Gây thiệt hại đến tài sản của người khác".

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1029/QĐ - XPHC ngày 08/10/2015 của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản".

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2021 đến nay. Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Tổ 9, phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 20 phút ngày 14/7/2021, tổ công tác của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy làm nhiệm vụ tuần tra trên tuyến đường Gang Thép thuộc tổ 03, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, thì phát hiện 01 người đàn ông đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20N1 - 8179 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, người đàn ông này khai tên là Lý Xuân S. Quá trình kiểm tra, S đã tự giác giao nộp từ trong túi quần phía trước, bên phải S đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, S khai nhận đó là ma túy Heroine, do S mua mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với S, niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của S 01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT biển kiểm soát 20N1 – 8179.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của S có khối lượng là 0,343 gam, lấy 0,211 gam niêm phong vào bì ký hiệu A3 gửi giám định, còn lại 0,132 gam niêm phong vào bì ký hiệu A4 để lưu kho.

Tại kết luận giám định số 1152/KL-KTHS ngày 22/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,343 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lý Xuân S khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 14/7/2021 S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20N1 - 8179 đi từ tổ 05, phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên đến khu vực đối diện Trung tâm uống Methadol phường Trung Thành để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu trắng, bên trong chứa Heroine với số tiền là 200.000 đồng. Mua xong, S cất gói ma túy vừa mua vào trong túi quần phía trước bên phải S đang mặc rồi điều khiển xe mô tô quay về tìm nơi sử dụng. Trên đường đi về S dừng lại trước 01 quầy thuốc gần chợ Dốc Hanh thuộc phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên mua xi lanh để sử dụng ma túy. Khi chưa kịp mua thì bị tổ Công tác của Công an phường Hương Sơn, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT biển kiểm soát 20N1 – 8179; 02 bì niêm phong kí hiệu A3, A4 bên trong chứa ma túy là mẫu hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói mẫu và mẫu lưu kho. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 480/CT-VKSTPTN ngày 24/8/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lý Xuân S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng và thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi, mục đích phạm tội.

Trong phần tranh luận: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố Lý Xuân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy vật chứng là các phong bì ký hiệu A3, A4; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT biển kiểm soát 20N1 – 8179 và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với các đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt được đề xuất và các nội dung khác trong Bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận.

Trong lời nói sau cùng bị cáo có thái độ thành khẩn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm có cơ hội về với gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các thủ tục, trình tự tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tại phiên tòa, người chứng kiến vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ rõ ràng, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó xét xử vắng mặt người chứng kiến là phù hợp quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Qua đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng đủ cơ sở xác định:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 30/6/2021, tại khu vực tổ 03, phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Lý Xuân S có hành vi tàng trữ 0,343 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Xét động cơ, mục đích phạm tội, khối lượng chất ma túy tàng trữ, thì hành vi của bị cáo Lý Xuân S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm:

a....., b......

c, Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố Lý Xuân S về tội danh và điều luật nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, góp phần gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi khác nhau, cho thấy bị cáo S không có sự tu dưỡng tốt trong cuộc sống. Hiện nay bị cáo sống một mình, đã ly hôn vợ, con cái đã trưởng thành. Những yếu tố trên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù với bị cáo mới đảm bảo giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và góp phần phòng chống các tội phạm về ma túy trên địa bàn. Xét thấy mức hình phạt từ 30 đến 36 tháng tù đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề xuất áp dụng đối với bị cáo là tương xứng, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, tại địa phương không có tài sản gì. Do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng gồm: 02 bì niêm phong kí hiệu A3, A4 bên trong chứa ma túy là mẫu hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói mẫu và mẫu lưu kho cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu SUFAT biển kiểm soát 20N1 - 8179. Quá trình điều tra xác định chiếc xe nêu trên do chị Hà Thị Khâm, sinh năm 1968, trú tại xóm Đồng Chua, xã Thành Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên là người đứng tên đăng ký chiếc xe mô tô này. Khoảng năm 2013 chị Khâm bán chiếc xe này cho một người phụ nữ (không nhớ họ tên, địa chỉ ở đâu do thời gian đã lâu). Lý Xuân S khai nhận chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20N1 - 8179 là do S mua đã lâu nên không nhớ mua của ai do đó xác định chiếc xe mô tô trên là tài sản của S. S dùng xe để đi mua ma túy sử dụng do đó cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về người bán ma túy cho bị cáo do chưa đủ căn cứ xác định nhân thân lai lịch nên không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 326, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bị cáo Lý Xuân S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Lý Xuân S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A3 bên trong chứa 0,191 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu, mặt sau có chữ ký của Lê Tuấn Anh, Nguyễn Thành Trung và 02 dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A4 bên trong chứa 0,123 gam chất bột màu trắng, mặt sau có chữ ký của Trần Văn Hòe, Nguyễn Huy Hoàng, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Minh Thanh, Lý Xuân S, Phạm Công Oanh và 03 dấu của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thái Nguyên.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Sufat, biển kiểm soát

20N1-8179,

số

khung

RPJW0G1PJ5A531236,

số

máy VPJLIP50FMG531236, loại xe hai bánh từ 50-175cm3, số loại 100V, dung tích xi lanh 97, màu sơn đen (theo tra cứu tại phòng Cảnh sát giao thông), màu sơn đỏ đen (theo xe).

(Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 588 ngày 27/8/2021 giữa Chi cục Thi hành dân sự thành phố Thái Nguyên và Công an TP Thái Nguyên).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lý Xuân S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ