vanban.org

Bản án 462/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Chế Ngọc S ly hôn với Bà Trần Thị Ph.

Về con chung: Có hai con chung có một trẻ trưởng thành tên Chế Hoài B, sinh ngày 17/3/2002 còn một trẻ chưa trưởng thành Chế Triều V sinh ngày 18/8/2005. Buộc Bà Trần Thị Ph giao trẻ V cho Ông Chế Ngọc S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Trần Thị Ph không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Chế Ngọc S ly hôn với Bà Trần Thị Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 225 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 462/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16/08/2023
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Kim Tuyến.

2. Ông Phan Văn Tao.

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy cán bộ Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 229/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1148/2023/QĐXX-ST ngày 13/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1196/2023/QĐST-DS ngày 31/7/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Chế Ngọc S , sinh năm 1976; Địa chỉ: 1/2 , tổ 2, ấp A, xã B, huyện N, Thành phố H (Có mặt)

Bị đơn: Bà Trần Thị Ph, sinh năm 1978; Địa chỉ: 1/2 , tổ 2, ấp A, xã B, huyện N, Thành phố H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 18/4/2023 và các bản tự khai và biên bản hòa giải có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn Ông Chế Ngọc S trình bày:

Ông S và Bà Trần Thị Ph quen biết, tự nguyện đi đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 008/2000 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, Thành phố H cấp ngày 29/1/2000.

Theo Ông S , vợ chồng sống chung hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn năm 2018 vì tính cách hai vợ chồng không hòa hợp trong cuộc sống nên tình cảm vợ chồng không gắn bó mất lòng tin ở nhau thường xuyên xảy ra việc gây gổ, cãi vã. Đồng thời vợ chồng không có sự yêu thương chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau trong gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên từ đầu năm 2020 đến nay đã ly thân. Mặc dù đôi bên đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Nay, Ông S nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên Ông S khởi kiện yêu cầu được ly hôn với Bà Ph để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có hai con chung có một trẻ trưởng thành tên Chế Hoài B, sinh ngày 17/3/2002 còn một trẻ chưa trưởng thành Chế Triều V sinh ngày 18/8/2005. Hiện nay cháu Chế Triều V đang ở cùng với Ông S . Ông S đề nghị được trực tiếp nuôi trẻ Vỹ, không yêu cầu Bà Ph cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn Bà Trần Thị Ph trình bày tại bản tự khai ngày 7/6/2023 và biên bản hòa giải như sau:

Về hôn nhân từ tháng 1 năm 2000 đến nay thì vợ chồng có mâu thuẫn nhưng Bà Ph đồng ý ly hôn nhưng Ông S phải cho Bà Ph sống chung trong căn nhà để tiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái thì Bà Ph mới đồng ý ly hôn.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè: Qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, đương sự có mặt đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, do cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn sâu sắc, không hòa giải được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận do có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Về con chung có hai con chung có một trẻ trưởng thành tên Chế Hoài B, sinh ngày 17/3/2002 còn một trẻ chưa trưởng thành Chế Triều V sinh ngày 18/8/2005 đề nghị giao trẻ V cho Ông S được trực tiếp nuôi con theo nguyện vọng trẻ Vỹ, không yêu cầu Bà Ph cấp dưỡng. Về tài sản chung cả hai bên không yêu cầu cho nên không đề nghị không giải quyết phần này cũng như nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2000 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, Thành phố H cấp ngày 29/1/2000 thì quan hệ hôn nhân giữa Ông Chế Ngọc S và Bà Trần Thị Ph là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Chế Ngọc S khởi kiện ly hôn Bà Trần Thị Ph là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, Bà Ph có cư trú tại huyện Nhà Bè. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã nhiều lần tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng bị đơn Bà Trần Thị Ph đến Tòa án để giải quyết, xét xử nhưng bị đơn vẫn không đến, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Bà Trần Thị Ph.

Xét đơn khởi kiện ngày 18/4/2023 của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét yêu cầu Ông S xin ly hôn Bà Ph với lý do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra xuất phát từ việc hai người đến với nhau không phải vì tình yêu thương chia sẽ lẫn nhau trong cuộc sống bất đồng quan điểm dẫn đến gia đình không có tiến nói chung mâu thuẫn trầm trọng nhiều năm cũng như hai bên đã tự hòa giải trong gia đình để duy trì hôn nhân nhưng không thành. Đồng thời công văn số: 229/2023/TANB ngày 08/5/2023 xác minh tình trạng hôn nhân tại Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Phú Xuân huyện Nhà Bè Bà Ph với Ông S đã ly thân không còn tồn tại hôn nhân, cũng như tại bản tự khai Bà Ph trình bày “Về hôn nhân từ tháng 1 năm 2000 đến nay thì vợ chồng có mâu thuẫn nhưng Bà Ph đồng ý ly hôn nhưng Ông S phải cho Bà Ph sống chung trong căn nhà để tiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái thì Bà Ph mới đồng ý ly hôn”. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa Ông S và Bà Ph là có thật và khả năng hàn gắn không còn, đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của Ông S đối với Bà Ph .

Về con chung: Có hai con chung có một trẻ trưởng thành tên Chế Hoài B, sinh ngày 17/3/2002 còn một trẻ chưa trưởng thành Chế Triều V sinh ngày 18/8/2005. Do đó Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Hiện do Ông S là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu V và cùng ý kiến cháu V được ở với Ông S . Hội đồng xét xử chấp nhận phần yêu cầu Ông S giao cháu V cho Ông S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét Bà Ph là người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu V theo quy định Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Mặc khác, Ông S không yêu cầu Bà Ph cấp dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử ghi nhận Ông S không yêu cầu Bà Ph cấp dưỡng cho cháu Vỹ.

Bà Ph được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở Bà Ph thực hiện quyền này.

Vì lợi ích con chung, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm non, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Ông S Bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Ông S , Bà Ph xác định không có. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xét án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nguyên đơn Ông Chế Ngọc S có giá ngạch 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 91, Điều 147, Điều 225, Điều 227, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 Điều 83 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Chế Ngọc S ly hôn với Bà Trần Thị Ph. Giấy chứng nhận kết hôn số: 08/2000 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện N, Thành phố H cấp ngày 29/1/2000 không có giá trị pháp lý kể từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Có hai con chung có một trẻ trưởng thành tên Chế Hoài B, sinh ngày 17/3/2002 còn một trẻ chưa trưởng thành Chế Triều V sinh ngày 18/8/2005. Buộc Bà Trần Thị Ph giao trẻ V cho Ông Chế Ngọc S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Trần Thị Ph không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Bà Trần Thị Ph được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở Bà Ph thực hiện quyền này.

Vì lợi ích con chung, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Toà án có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm non, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Ông Chế Ngọc S và Bà Trần Thị Ph tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Ông Chế Ngọc S và Bà Trần Thị Ph khai không có nên không xem xét giải quyết.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: Nguyên đơn Ông Chế Ngọc S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0003712 ngày 26/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, Ông S đã nộp đủ án phí.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ