- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HUYNH NGOC THANH T - HO VAN H - LY HON"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 462/2018/HNGĐ-ST Ngày: 17/5/2018 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lý
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh
- Thư ký phiên tòa: Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1050/2017/TLST-HNGĐ ngày 16/10/2017 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc Thanh T, sinh năm 1995
Thường trú: Đường B, khu phố N, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Đường S, khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn H, sinh năm 1988
Thường trú: ấp C, xã X, thị xã L, tỉnh Đ.
Tạm trú: Đường S, khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Thanh T trình bày:
Bà Huỳnh Ngọc Thanh T và ông Hồ Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình vợ tại địa chỉ Đường B, khu phố N, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2016, vợ chồng chuyển đến sống tại địa chỉ Đường S, khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Hồ Văn H hay ghen, vợ chồng không tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gỗ nhau, có lần xô xát, đánh nhau. Nay bà T xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn quan hệ vợ chồng nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà T và ông H có 01 người con chung tên Hồ Ngọc Phương U, sinh ngày 26/11/2012. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Bị đơn ông Hồ Văn H trình bày:
Ông và bà Huỳnh Ngọc Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với gia đình vợ tại địa chỉ Đường B, khu phố N, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nay ông H xác định vẫn còn thương vợ nên ông H yêu cầu được đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Bà T và ông H có 01 người con chung tên Hồ Ngọc Phương U, sinh ngày 26/11/2012. Trường hợp bà T kiên quyết ly hôn thì ông H cũng đồng ý giao con chung tên Hồ Ngọc Phương U cho bà T nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
3. Tại phiên tòa:
Bà Huỳnh Ngọc Thanh T có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà T yêu cầu được ly hôn với ông H; Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Ngọc Phương U, sinh ngày 26/11/2012, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Ông Hồ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
4.1
:
thủ tục
vụ án
khi
, quyết định đưa vụ án ra xét xử ng theo quy
t
. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời, quyền và nghĩa vụ của đương sự được tôn trọng và bảo đảm đúng quy
.
4.2 V
: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Huỳnh Ngọc Thanh T yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Văn H. Theo Kết quả xác minh của Công an phường L, quận T thì bị đơn ông Hồ Văn H có thực tế cư trú tại Đường S, khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Thanh T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
1.3 Bị đơn ông Hồ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
2. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Ngọc Thanh T và ông Hồ Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 65 quyển số 01/2013 ngày 08 tháng 5 năm 2013. Do đó, căn cứ quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông H là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà Huỳnh Ngọc Thanh T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H xảy ra do ông H hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Ông H yêu cầu được đoàn tụ gia đình nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông H tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông H đều vắng mặt không rõ lý do, điều này cho thấy ông H không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng, để mặc quan hệ hôn nhân, không quan tâm đến ý kiến của bà T.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H đã thật sự trầm trọng, không bên nào quan tâm đến cuộc sống của nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
- Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Ngọc Phương U và ông Hồ Văn H cũng xác định trường hợp bà T cương quyết ly hôn thì ông H cũng đồng ý giao con chung tên Hồ Ngọc Phương U cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, con chung cũng hiện đang do bà T nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu của bà T, giao con chung tên Hồ Ngọc Phương U cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Đương sự xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm, bà T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 186, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 9, 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Thanh T.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Huỳnh Ngọc Thanh T và ông Hồ Văn H.
1.2 Về con chung: Giao con chung tên Hồ Ngọc Phương U, sinh ngày 26/11/2012 cho bà Huỳnh Ngọc Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Ngọc Thanh T không yêu cầu ông Hồ Văn H cấp dưỡng nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Ngọc Thanh T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được cấn trừ vào T tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0037271 ngày 16 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Huỳnh Ngọc Thanh T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Ngọc Thanh T và ông Hồ Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TPHCM; - Viện Kiểm sát nhân dân TPHCM; - VKSND quận Thủ Đức, TPHCM; - Chi cục THA DS quận Thủ Đức, TPHCM; - Cơ quan thực hiện việc ĐKKH; - Đương sự; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương Châu |