- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ HOÀI TÂN VÀ ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? TAND cấp Cao tại Tp.HCM (1)
- Căn cứ chính? Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 460/2024/HS-PT Ngày: 17-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam
Các Thẩm phán:
1/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
2/ Ông Phạm Viết Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 17/12/2024, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 446/2024/TLPT-HS, ngày 18/11/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 267/2024/HSST, ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Đường A, Tổ B, ấp D, xã E, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (chết) và bà Đặng Thị Đ (chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Trần Thị Ngọc H2 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2011); Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/12/2021, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 20668/QĐ-XPHC ngày 22/12/2021 của Công an thị trấn F, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 1.500.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 14/01/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Từ ngày 22/10/2022, Lê Hoài T cùng Nguyễn Văn H, Lê Thanh H2, Dương Thành T2 và Nguyễn Bá P cùng nhau thỏa thuận hùn tiền đánh bạc bằng hình thức đá gà qua mạng với những người khác, với tỉ lệ góp tiền chung chi thắng thua với nhau là T 30%, H2 30%, P 20%, H 15%, T2 05%. Trong đó, T là người trực tiếp nhận cược từ người tham gia đánh bạc khác và thực hiện việc thu chi tiền thắng thua. Ngày 31/10/2022, P nghỉ không tiếp tục góp vốn, nên 20% của P được chuyển cho bị can T là 50%. T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 10 có số thuê bao 0904503179 (do T đứng tên chủ thuê bao) truy cập vào trang website "thomohomnay.com" (trang youtube, không có tiền và không có tài khoản, mật khẩu đăng nhập) xem đá gà trực tiếp từ 11 giờ 30 phút đến 17 giờ 00 phút hàng ngày. Người chơi muốn tham gia cá cược với T thì điện thoại trực tiếp hoặc nhắn tin vào điện thoại di động Iphone 7 số thuê bao 0902428844 do T đứng tên chủ thuê bao để T xác nhận số tiền cược, thắng thua tỉ lệ 9:10, có nghĩa khi T thua, con bạc thắng thì T trả tiền cho con bạc 9; khi T thắng, con bạc thua thì trả cho T 10. Nguyễn Văn P1 (tên thường gọi: S, sinh năm 1984; nơi thường trú: Đường 559, Tổ 8, ấp D, xã E, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng số điện thoại 0778884123, là người tham gia đặt cược nhiều nhất với T trong ngày 04/11/2022. P1 điện thoại trực tiếp vào số máy 0902428844 của T. P1 cược lần 1: Vào lúc 11 giờ 36 phút, P1 bắt đầu tham gia đánh bạc, sau khi T nghe máy, P1 nói với T là “Xanh năm” có nghĩa là P1 chọn gà bên “Xanh” tiền cược với T là 5.000.000 đồng. Sau đó T nhắn tin lại P1 “X5” để xác nhận đồng ý. Trận đá gà diễn ra khoảng 02-05 phút, sau khi có kết quả thắng thua, bên “Xanh” thắng, có nghĩa là P1 thắng T, T nhắn tin vào số máy 0778884123 cho P1 là “Lời 4500” có nghĩa là P1 lời 4.500.000 đồng. P1 tiếp tục lần 2, đặt cược với T thì P1 điện thoại tiếp cho T nói “Đỏ mười” có nghĩa là bên gà “Đỏ” P1 đặt cược 10.000.000 đồng, T gửi tin nhắn cho P1 để xác nhận đồng ý “D10”, khi trận gà kết thúc, gà bên “Đỏ” thắng, T nhắn tin cho P1 “A loi 13500", có nghĩa là P1 lời được 13.500.000 đồng (trong đó gồm có 9.000.000 đồng là tiền thắng cược lần 2 T phải trả cho P1 và 4.500.000 đồng tiền thắng cược T lần 1). Nếu P1 tiếp tục đặt cược lần 3, 4, … cứ như vậy tiền thắng thua sẽ được cộng trừ vào cho đến khi kết thúc, không tham gia cá cược nữa. Vào lúc 13 giờ 46 phút ngày 04/11/2022, P1 tham gia cá cược trận cuối cùng với T, T gửi tin nhắn xác nhận là “X10”, kết quả là “Xanh” thua, T nhắn cho P1 “A lo 61000” có nghĩa là tổng kết lại lúc 13 giờ 50 phút (cược lần cuối) ngày 04/11/2022, P1 thua T với số tiền 61.000.000 đồng. T nhắn tin cho P1 “A lo 61000” có nghĩa P1 thua hết số tiền 61.000.000 đồng. Trong ngày 04/11/2022, P1 có 01 lần cược 3.000.000 đồng, 03 lần cược 5.000.000 đồng, còn lại là 10.000.000 đồng. P1 không nhắn tin trả lời tin cho T. T tiếp tục nhắn tin cho P1 “A chuyen tien qua e cái e ck ta a, cấp gà ck tính cho ta rồi” nghĩa là T kêu P1 chuyển tiền qua cho T để chơi tiếp, vì T nhận thấy P1 đã thua nhiều. P1 vẫn không trả lời nên khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày 04/11/2022, T sử dụng số 0902428844 gọi vào số máy 0778884123 của P1 nhưng báo thuê bao không liên lạc được.
Ngày 02/11/2022, Lê Hoài T và Nguyễn Văn P1 có tham gia đánh bạc với nhau, T thua 52.000.000 đồng và ngày 02/11/2022, H đã gom tiền của T, T2, H2 chuyển khoản số tiền P1 đánh bạc thắng với T là 52.000.000 đồng. Số tài khoản của H là 6120205953239 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đến số tài khoản của Nguyễn Văn P1 là 6120205487227 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Khi chuyển trả 52.000.000 đồng, H biết rõ là T yêu cầu chuyển tiền đánh bạc cho P1. P1 có 03 lần chuyển tiền trả (do thua phải chung) cho T với tổng số tiền là 50.000.000 đồng, lần lượt chuyển khoản cho T số tiền 8.500.000 đồng, 21.500.000 đồng và 20.000.000 đồng vào ngày 01/11/2022 khi T đang dự tiệc sinh nhật con gái của H.
Trong thời gian tham gia đánh bạc cùng T từ ngày 22/10/2022 đến ngày 04/11/2022, ngoài Nguyễn Văn P1 thì H, T2, H2, P không biết rõ T đã trực tiếp tham gia cá cược với người tham gia đánh bạc gồm những ai thắng thua bao nhiêu trận nhưng kết quả H thua số tiền khoảng 6.000.000 đồng; T2 thua số tiền khoảng 2.000.000 đồng; H2 thua nhiều lần tổng số tiền khoảng 80.000.000 đồng, nhiều lần giao tiền mặt cho T; P thua nhiều lần tổng số tiền thua khoảng 27.000.000 đồng, nhiều lần giao tiền mặt cho T. P có hành vi đánh bạc theo Biên bản xử phạt hành chính số 18957/BB-VPHC và Quyết định xử phạt hành chính 21447/QĐ-XPHC cùng ngày 03/8/2020 của Công an xã E, huyện C. Đã thi hành nộp phạt theo Biên lai số 0596644 ngày 12/8/2020, số tiền 750.000 đồng, được xem là người chưa bị xử phạt vi phạm hành chính từ ngày 12/8/2021. Ngày 04/11/2022 P không tham gia góp vốn nên hành vi của P không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc nên không xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành cho nhận dạng xác định Lê Hoài T, Nguyễn Văn H, Dương Thành T2, Nguyễn Bá P cùng nhau sử dụng mạng internet tham gia đánh bạc và biết mặt nhau.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành đối chất Lê Hoài T, Nguyễn Văn H, Dương Thành T2, Lê Thanh H2, Nguyễn Bá P. Kết quả T, H, T2, H2 đều thừa nhận hành vi phạm tội vào ngày 04/11/2022; riêng P nghỉ, không tham gia góp vốn đánh bạc từ ngày 31/10/2022.
Ngoài ra, Lê Hoài T còn trực tiếp tham gia đánh bạc với những người khác nhưng không đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh hoặc có hành vi tham gia đánh bạc nhưng số tiền tham gia đánh bạc không đủ định lượng, cụ thể như sau: Trần Hoài P3 (tên thường gọi: R; sinh ngày 25/11/1985; nơi thường trú: Tổ X, ấp D, xã E, huyện C) sử dụng số điện thoại 0367561896 chưa đăng ký chủ thuê bao, tham gia cá cược với T từ khoảng 20 ngày trước ngày 04/11/2022. Trong đó, P3 nhớ được 04 ngày (từ ngày 01 - 04/11/2022) tham gia cá cược với T, số tiền thắng thua cụ thể: Ngày 01/11/2022, cược với T khoảng 20 trận gà, số tiền thua mà P3 đã chung (trả) cho T là 27.000.000 đồng tiền mặt; ngày 02/11/2022, cá cược với T khoảng 10 trận gà, kết quả thua T 13.000.000 đồng; ngày 03/11/2022, cá cược với T khoảng 16 trận, P3 thua 18.000.000 đồng; ngày 04/11/2022, cá cược với T khoảng 06-07 trận gà, P3 thua 3.800.000 đồng. P3 đã trả tiền mặt cho T lần lượt số tiền tương ứng các ngày tại quán Cà phê Z. Từ khi tham gia chơi cá cược đá gà qua mạng với T thì P3 tự khai đã thua tổng cộng khoảng 108.000.000 đồng, thắng 25.000.000 đồng. Trong đó lời khai của T và P3 thể hiện không nhớ việc tham gia đánh bạc mỗi lần cược; không có tài liệu thể hiện P3 tham gia từng trận gà, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của P3 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Trần Văn H3 (sinh ngày 07/01/1977, nơi thường trú: Tổ B, ấp D, xã E, huyện C) sử dụng sim số điện thoại 0987864624 tham gia cá cược với Lê Hoài T vào ngày 04/11/2022, tổng kết lại là T thua H3 7.400.000 đồng, T nhắn tin cho H3 “A loi 7400". Sáng ngày 05/11/2022, T gặp H3 tại quán cà phê gần nhà H3, T đã trả tiền thắng cho H3 là 7.400.000 đồng (tỉ lệ thắng thua 9:10). Trong đó, lời khai của T và H3 thể hiện việc tham gia đánh bạc mỗi lần cược, với số tiền dưới 5.000.000 đồng; không có tài liệu thể hiện Hải tham gia từng trận gà, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của H3 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Trần Văn Q (tên thường gọi Út bò sữa, sinh ngày 31/7/1979, nơi thường trú: đường Y, ấp D, xã E, huyện C) sử dụng số điện thoại 0338079217 do bà Bùi Thị A là vợ của Q đứng tên chủ thuê bao, tham gia cá cược với T 02 lần, 01 lần cược 1.000.000 đồng, 01 lần cược 2.000.000 đồng, ông Q không nhớ chọn bên Xanh hay Đỏ, tổng kết lại là T thua Q 02 lần số tiền T phải trả cho ông Q là 2.700.000 đồng. Chiều tối ngày 04/11/2022, T qua nhà Q tại đường bờ kênh ấp D, xã E trả số tiền 2.700.000 đồng cho Q (Tỉ lệ thắng thua 9:10). Ngoài tham gia cá cược ngày 04/11/2022 với T 02 lần, trước đó ngày 01 và 03/11/2022, Q thua T mỗi ngày khoảng hơn 2.000.000 đồng; ngày 31/10/2022 và ngày 02/11/2022, mỗi ngày Q thắng T khoảng hơn 2.000.000 đồng, giao dịch bằng tiền mặt. Không có tài liệu thể hiện Q tham gia từng trận gà, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của Q không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Hoàng Văn L (tên thường gọi là LB; sinh ngày 20/10/1974; nơi thường trú: Đường Y, ấp D, xã E, huyện C) bắt đầu tham gia hoạt động đánh bạc với Lê Hoài T được 01 tháng, mỗi lần L đặt cược từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Từ ngày 22, 23, 24, 25/10/2022, L cá cược với T mỗi ngày chơi 05-06 trận gà và thắng thua với T mỗi trận 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Trong 04 ngày này, L đã thua T và đã trả cho T tổng cộng là 10.000.000 đồng. Số tiền này, L đã nhờ bà Lê Thị V gần nhà chuyển khoản cho T vào ngày 26/10/2022. Ngày 28/10/2022, L cá cược với T khoảng 4 trận, kết quả là L thắng T 2.400.000 đồng. Ngày 29/10/2022, L cá cược với T 5 trận gà, kết quả là L thắng T 3.400.000 đồng. Ngày 30/10/2022, L cá cược với T 5 trận gà, kết quả chung là L thắng T 2.900.000 đồng. Sau đó đến ngày 04/11/2022, L không tham gia đánh bạc; không có tài liệu thể hiện L tham gia từng trận gà; Chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của L không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc.
Dương Hồ V (tên thường gọi là H4, sinh ngày 21/4/1980, nơi thường trú: H, ấp D, xã E, huyện C) sử dụng số điện thoại 0358791797 tham gia cá cược với Lê Hoài T 01 lần vào ngày 04/11/2022, V chọn bên Xanh hay Đỏ thì V không nhớ, tiền cược là 1.000.000 đồng, kết quả V thắng. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 05/11/2022, V gặp T tại quán cà phê, T đã trả số tiền thắng cược cho V là 900.000 đồng (tỉ lệ thắng thua 9:10). Không có tài liệu thể hiện V ham gia từng trận gà, chưa có tiền án, tiền sự. Hành vi của V không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc.
Đối với những người này, T có mối quan hệ hàng xóm với nhau, chơi chung nên biết mặt, biết nhà nhau. Ngày 04/11/2022, H3, V, Q, P3 điện thoại trực tiếp đặt cược với T, T ghi số tiền cược ra giấy, T đã đốt bỏ trong chiều ngày 04/11/2022 tại nhà hoang khi có kết quả thắng thua thì T chỉ nhắn tin chốt số tiền thắng thua.
Qua xác minh tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn H phát hiện có các số tài khoản về việc chuyển tiền có nghi vấn liên quan đến tội phạm:
Võ Thị T3 (sinh năm 1980; nơi thường trú: đường M, ấp D, xã E, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng số tài khoản 6120205105357 ngân hàng Agribank. Bà T3 chuyển khoản cho H ngày 03/10/2022 số tiền 14.500.000 đồng có ghi tên nội dung chuyển: “aphuong chuyen” vì nhận chuyển khoản giùm của người đàn ông lạ mặt đến nhờ chuyển vào tài khoản của H thì đồng ý và lấy phí chuyển tiền là 15.000 đồng. Bà T3 không tham gia đánh bạc nên không xử lý
Trương Khắc V2 (sinh năm 1981; nơi thường trú:, đường G, ấp D, xã E, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng tài khoản 6120205453356 của ngân hàng Agribank. Ông V2 chuyển tiền cho H ngày 28/10/2022 số tiền 18.500.000 đồng, không nhớ chuyển mục đích gì; ngày 04/11/2022 số tiền 61.000.000 đồng là chuyển trả lãi do mượn của H số tiền 2.000.000.000 đồng; ngày 05/11/2022 H chuyển cho V2 số tiền 36.000.000 đồng là phí dịch vụ làm thủ tục tách thửa đất cho H. Ông V2 không tham gia đánh bạc nên không xử lý.
Nguyễn Thị C (sinh năm 1979; nơi thường trú: I, ấp D, xã E, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng tài khoản 6120205187170 thuộc Ngân hàng Agribank. Bà C chuyển tiền cho H ngày 27/10/2022 số tiền 3.500.000 đồng; ngày 29/10/2022 số tiền 4.000.000 đồng; ngày 31/10/2022 số tiền 9.960.000 đồng những lần chuyển khoản này là do bà C thu tiền thắng được khi mua bán số đề với các con bạc làm chung Công ty H và chuyển cho H. Bà C sẽ được tiền hoa hồng từ H và người chơi thắng từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, bà C không tham gia đánh bạc đá gà qua mạng, không đủ chứng cứ chứng minh hành vi mua bán số đề nên không căn cứ xử lý đối với bà C và H về hành vi này. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 267/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 21/3/2024 đến ngày 31/7/2024. Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt của các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Xét thấy Bản án số 267/2024/HSST ngày 19/9/ 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm và bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm trên để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung. Do hủy bản án hình sự sơ thẩm nên không xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình điều tra, cáo trạng cũng như Bản án sơ thẩm nhận định: Các bị cáo Lê Hoài T, Nguyễn Văn H, Dương Thành T2 và Lê Thanh H2 cùng nhau hùn tiền sử dụng trang đá gà trực tuyến trên mạng internet để xem, trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn P1 và một số đối tượng khác. Trong đó, ngày 02/11/2024, ăn thua với P1 là 52.000.000 đồng, ngày 04/11/2024 là 61.000.000 đồng,... Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Hoài T, Nguyễn Văn H, Dương Thanh T2 và Lê Thanh H2 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Hoài T, Nguyễn Văn H 03 năm tù và xử 02 bị cáo Dương Thành T2, Lê Thanh H2 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Lê Hoài T, Dương Thành T2 và Lê Thanh H2 không kháng cáo và không bị kháng nghị. Bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Thứ nhất, Bản án sơ thẩm ghi nhận bị cáo Lê Hoài T còn trực tiếp tham gia đánh bạc với những người khác nhưng không đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh hoặc có hành vi tham gia đánh bạc nhưng số tiền tham gia đánh bạc không đủ định lượng, từ đó đánh giá hành vi của các đối tượng như Trần Hoài P3, Trần Văn H3, Trần Văn Q, Hoàng Văn L, Dương Hồ V không đủ yếu tố cấu thành tội phạm đánh bạc. Xét trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã gửi công văn xác minh các số điện thoại trên. Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận sử dụng số điện thoại này để tham gia nhắn tin đánh bạc với bị cáo T, bị cáo T cũng xác nhận nhận độ và xác nhận thắng thua từng trận bằng tin nhắn đối với tất cả các đối tượng tham gia đánh bạc. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không thực hiện trích xuất nội dung tin nhắn các số điện thoại này tại phương tiện thông tin điện tử cũng như nội dung tin nhắn được lưu trữ trên hệ thống của các công ty viễn thông. Do đó, thể hiện việc điều tra không đầy đủ, dẫn đến có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với các đối tượng nêu trên.
Thứ hai, đối với các bị cáo Dương Thành T2 và Lê Thanh H2 được hưởng án treo. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo T2, H2 là đồng phạm giúp sức với vai trò không đáng kể là chưa chính xác. Các bị cáo T, H, T2, H2 trước khi thực hiện hành vi đánh bạc đều cùng nhau bàn bạc và cùng nhau góp tiền theo tỉ lệ phân chia đã được xác định tại Cơ quan điều tra để thực hiện hành vi đánh bạc và giao bị cáo T trực tiếp nhận độ xác định tỉ lệ thắng thua. Như vậy, các bị cáo đều có vai trò chính yếu trong việc cùng thực hiện hành vi đánh bạc vì nếu thiếu một trong các bị cáo thì tôi phạm cũng khó hoàn thành. Đồng thời, các bị cáo đều phạm tội 02 lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều thuộc trường hợp nghiêm trọng, trong đó có 02 lần số tiền phạm tội trên 50.000.000 đồng là thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng; ngoài ra, các bị cáo phạm tội nhiều lần trong khoảng thời gian kéo dài đối với nhiều người, do đó, không phải là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và vai trò không đáng kể như cấp sơ thẩm nhận định. Ngoài ra, bị cáo T2 còn có nhân thân, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, mặc dù đã được xóa nhưng lần phạm tội này được cho hưởng án treo là chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm cho các bị cáo T2, H2 được hưởng án treo là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, vi phạm Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 1 Điều 1 và điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022). Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo T, H2 không kháng cáo và không bị kháng nghị nên không thuộc trường hợp sửa bản án. Xét thấy Bản án số 267/2024/HSST ngày 19/9/ 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được, có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm và bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, cần hủy Bản án hình sự sơ thẩm trên để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung. Do hủy bản án hình sự sơ thẩm nên không xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H. [4] Các vấn đề khác: Bị cáo Nguyễn Văn H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a, b khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 267/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để chuyển Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung. Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp Cao tại Tp.HCM (1) - VKSND cấp Cao tại Tp.HCM (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND huyện C ; (1) - P.PC 53 – CA Tp.HCM; (1) - Cục THADS Tp.HCM (1) - Chi cục THA huyện C; (1) - Bị cáo; (1) - TAND huyện C ; (1) - Công an huyện C ; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Ủy ban nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (19) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoài Nam |