- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Q - Phan Nhật T"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật t tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
N N N N
N
Ủ N
V T N M
T ÀN P Ố BẾN TRE
Đ c p - T do - nh ph c
T N BẾN TRE
B n án s : 46/2022/DS-ST
Ngày: 04/7/2022
V/v: “T/c hợp đồng vay tài s n và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do
tài s n bị xâm phạm”
NHÂN DANH
NƢỚ
N
Ủ N
V T N M
TÒA ÁN NHÂN DÂN T ÀN P Ố BẾN TRE- T N BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hưng
Ông Lê Anh Giàu
- Thư ký phiên toà: Ông Mai Chiến Trực - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành ph Bến Tre, tỉnh Bến Tre mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý s : 54/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài s n và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài s n bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s : 71/2022/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1966;
HKTT: s M khu ph M, phường B, thành ph B, tỉnh Bến Tre.
Cư trú: s H Qu c lộ S, khu ph M, phường P, thành ph B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Ông Phan Nh t T, sinh năm 1969;
Cư trú: s Z đường B phường A, thành ph B, tỉnh Bến Tre.
(Ông Q và ông T có mặt)
N
UN VỤ N:
Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ông và ông Phan Nhật T là bạn bè, đồng thời ông có giao dịch mua bán củi đ t với ông T. Do cần v n làm ăn nên ông T vay tiền của ông, cụ thể:
- Tháng 02/2015, ông cho ông T vay s tiền 200 triệu đồng. Khi vay tiền các bên không có làm biên nhận, không xác định thời hạn, các bên thỏa thuận lãi suất là 2,5%/tháng. Các bên thỏa thuận tiền lãi cu i năm tính một lần, cụ thể: tiền lãi của s tiền 200 triệu đồng là 5 triệu đồng/tháng, c năm là 60 triệu đồng; đến cu i năm thì các bên ngồi với nhau tính lại, lấy tiền lãi trừ tiền củi, thiếu bao nhiêu thì 6 tháng sau ông T tr dứt hết tiền lãi của năm trước đó. Việc các bên giao dịch tiền lãi của món vay 200 triệu đồng này diễn ra đến tháng 02/2020 thì ông T ngưng đóng lãi. Do ông T ngưng đóng lãi từ tháng 02/2020, ông ph i cầm c tài s n và đóng lãi cho bên cầm c tài s n. Từ tháng 02/2020 đến tháng 02/2021 s tiền lãi ông T còn nợ lại ông là 60 triệu đồng.
- Tháng 02/2016, ông cho ông T vay tiếp s tiền 150 triệu đồng. Khi vay tiền các bên không có làm biên nhận, không xác định thời hạn, các bên thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng. Các bên thỏa thuận tiền lãi cu i năm tính một lần, cụ thể: tiền lãi của s tiền 150 triệu đồng là 4,5 triệu đồng/tháng, c năm là 54 triệu đồng; đến cu i năm thì các bên ngồi với nhau tính lại, lấy tiền lãi trừ tiền củi, thiếu bao nhiêu thì 6 tháng sau ông T mới tr dứt hết tiền lãi của năm trước đó. Việc các bên giao dịch tiền lãi của món vay 150 triệu đồng diễn ra đến tháng 02/2020 thì ông T ngưng đóng lãi. Do ông T ngưng đóng lãi từ tháng 02/2020, ông ph i cầm c tài s n và đóng lãi cho bên cầm c tài s n. Trước tháng 02/2020 thì ông T còn nợ ông 50 triệu đồng tiền lãi của món vay 150 triệu đồng, nên tổng s tiền g c và lãi ông T còn nợ ông trước tháng 02/2020 là 150 triệu đồng + 50 triệu đồng = 200 triệu đồng. Do do ông T ngưng đóng lãi kể từ tháng 02/2020 nên s tiền lãi của s tiền 200 triệu đồng tính từ tháng 02/2020 đến tháng 02/2021 với mức lãi suất 3%/tháng là 72 triệu đồng.
- Ông thừa nhận chữ viết trong tờ giấy photo được đánh s 01 (BL26) do ông T cung cấp cho Tòa án là chữ viết của ông.
Vào ngày 06/02/2021, ông và ông T ngồi lại với nhau ch t tiền g c và tiền lãi, cụ thể tính đến ngày 06/02/2021 thì ông T còn nợ lại ông 143 triệu đồng tiền lãi. Sau khi ch t nợ xong thì ông T tr cho ông 13 triệu đồng, ông T còn nợ lại ông 130 triệu đồng tiền lãi. Đến tháng 10/2021, do thấy ông T không mu n tr tiền vay và có dấu hiệu tẩu tán tài s n nên ngày 28/10/2021 thì ông và ông T th ng nhất lập hợp đồng vay tiền, hợp đồng được công chứng tại văn phòng công chứng B. Hợp đồng vay thể hiện s tiền vay là 600 triệu đồng (trong đó có 350 triệu đồng tiền g c đã giao cho ông T trước đó và tiền lãi 250 triệu đồng mà ông đã đứng ra đóng lãi cho việc cầm c tài s n cho người khác).
Nay, ông yêu cầu ông T tr ngay một lần s tiền 600 triệu đồng và phần tiền lãi phát sinh từ ngày 02/01/2022 đến thời điểm ông T thanh toán hết s tiền 600 triệu với lãi suất theo quy định.
Theo bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Phan Nhật T trình bày:
Đ i với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q: ông th ng nhất với lời trình bày của ông Q đã nêu trên về s tiền vay, quá trình vay tiền, s tiền g c và lãi. Đ i với món vay 200 triệu đồng vào tháng 02/2015 thì ông có đóng lãi cho ông Q, tuy nhiên tính đến tháng 02/2021 thì ông còn nợ lại tiền lãi của món vay này là 60 triệu đồng; đ i với món vay 150 triệu đồng vào tháng 02/2016 thì ông có đóng lãi cho ông Q, tuy nhiên tính đến tháng 2/2020 thì ông còn nợ lại tiền lãi của món vay này là 50 triệu đồng và tính đến tháng 02/2021 thì ông còn nợ lãi của món vay này là 72 triệu đồng. Chữ viết trong tờ giấy photo đánh s 01 mà ông đã cung cấp cho Tòa án vào ngày 12/4/2022 là chữ viết của ông Q. Theo như các bên trình bày việc cho vay là theo tháng, chứ không rõ ngày, theo ông thì việc các bên tính g c và lãi được lấy từ ngày đầu tháng tức là ngày 01 tây hàng tháng, cụ thể: ông vay của Qu c món 200 triệu đồng vào tháng 02/2015 thì xem như ông vay tiền vào ngày 01/02/2015; đ i với món vay tháng 02/2016 cũng tương tự như vậy. Ông không nhớ chính xác ngày vay, ông th ng nhất lấy m c ngày vay cũng như m c tính lãi là ngày 01 tây hàng tháng. Ông thừa nhận ông còn nợ ông Q s tiền 600 triệu đồng. Nay, ông đồng ý tr cho ông Q s tiền 600 triệu đồng nhưng do khó khăn nên ông xin tr dần s tiền này. Riêng phần tiền lãi của s tiền 600 triệu đồng phát sinh từ ngày 02/01/2022 đến nay thì ông xin không tr vì ông đang gặp khó khăn.
Đ i với yêu cầu ph n t : ông Q ph i chịu trách nhiệm về việc thuê người đập phá, dán b ng hiệu đóng cửa cơ sở kinh doanh của ông, bồi thường thiệt hại cho ông, cụ thể: bồi thường thiệt hại do không kinh doanh được như tiền thuê 3 công nhân 300.000 đồng/công nhân/ngày tính từ ngày 10/2/2022 đến nay; tiền thuê mặt bằng một tháng là 4 triệu đồng tính từ ngày 10/02/2022 đến nay. Tổng s tiền ông Q bồi thường thiệt hại cho ông là 93 triệu đồng. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu nào khác.
T i phiên tòa sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Q trình bày: ông yêu cầu ông T tr ngay tại Tòa án s tiền 600 triệu đồng. Về tiền lãi ông yêu cầu tính tiền lãi của s tiền 600 triệu đồng với mức lãi suất 3%/tháng tính từ ngày 02/4/2022 đến ngày xét xử, s tiền lãi ông yêu cầu là 108 triệu đồng; cơ sở ông yêu cầu ông T ph i tr s tiền lãi này vì ông ph i cầm c tài s n và đóng lãi hàng tháng cho bên cầm c với mức lãi suất 3%/tháng. Đồng thời, ông yêu cầu ông T tr cho ông tiền lãi của s tiền tạm ứng án phí 14 triệu đồng với mức lãi suất 4%/tháng tính từ ngày 21/3/2022 đến ngày xét xử, s tiền lãi ông yêu cầu là 1.960.000 đồng. Ông không đồng ý bồi thường cho ông T s tiền 93 triệu đồng vì ông không có thuê người đập phá cửa hiệu như ông T trình bày. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu nào khác.
Ông Phan Nhật T trình bày: ông thừa nhận ông còn nợ ông Q s tiền 600 triệu đồng, ông đồng ý tr cho ông Q s tiền 600 triệu đồng nhưng do hoàn c nh khó khăn nên ông xin tr dần s tiền 600 triệu đồng. Đ i với phần tiền lãi mà ông đã thanh toán xong cho ông Q trước ngày 28/10/2021 thì ông không đề nghị Tòa án xem xét lại. Tuy nhiên, đ i với với việc ông Q yêu cầu ông tr tiền lãi với mức lãi suất 3%/tháng của s tiền 600 triệu đồng và tiền lãi với mức lãi suất 4%/tháng của s tiền 14 triệu đồng thì ông không đồng ý; ông chỉ đồng ý tr tiền lãi của s tiền 600 triệu đồng với mức lãi suất theo quy định pháp luật. Ông vẫn giữ nguyên cầu ph n t là yêu cầu ông Q bồi thường thiệt hại cho ông với s tiền 93 triệu đồng. Ngoài ra, ông không còn yêu cầu nào khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật t tụng: Thẩm phán, Hội Thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án tuân thủ đúng quy định của Bộ luật t tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật t tụng dân sự.
Ý kiến về việc gi i quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 463, 466, 468, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 244 Bộ luật t tụng dân sự:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q, cụ thể: buộc ông T ph i tr cho ông Q s tiền 600 triệu đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định pháp luật (mức lãi suất 0,83%/tháng) tính từ thời điểm tr nợ.
- Không chấp nhận đ i với yêu cầu khởi kiện của ông Q về việc ông T ph i tr cho ông tiền lãi với mức lãi suất 3%/tháng của s tiền 600 triệu đồng là 108 triệu đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Q về việc buộc ông T ph i tr ông Q tiền lãi với mức lãi suất 4%/tháng của s tiền 14 triệu đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu ph n t của ông T về việc buộc ông Q ph i bồi thường thiệt hại s tiền 93 triệu đồng là tiền thuê nhân công và tiền thuê mặt bằng do hành vi kêu người khác chửi bới, quấy r i làm cơ sở kinh doanh của ông T không hoạt động được.
- Các bên ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
N ẬN ĐỊN Ủ T
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q và yêu cầu ph n t của bị đơn ông Phan Nhật T, đ i chiếu Điều 463 Điều 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài s n và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài s n bị xâm phạm.
[2] Về thẩm quyền gi i quyết vụ án: Căn cứ kho n 3 Điều 26 Bộ luật T tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án. Căn cứ kho n 3 Điều 35 Bộ luật T tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài s n ở nước ngoài, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn ông Phan Nhật T cung cấp cho Tòa án nơi cư trú của ông T là 27/32 đường 3/2, tại phường An Hội, thành ph Bến Tre, tỉnh Bến Tre, đ i chiếu điểm a kho n 1 Điều 35 và điểm a kho n 1 Điều 39 Bộ luật T tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án nhân dân thành ph Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Về n i dung:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Quá trình gi i quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Q và ông T đều th ng nhất:
- Ngày 01/02/2015, ông Q cho ông T vay s tiền 200 triệu đồng; khi vay tiền các bên không có làm biên nhận, không xác định thời hạn, các bên thỏa thuận lãi suất là 2,5%/tháng.
- Ngày 01/02/2016, ông Q cho ông T vay s tiền 150 triệu đồng; khi vay tiền các bên không có làm biên nhận, không xác định thời hạn, các bên thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng.
- Vào ngày 06/02/2021, ông Q và ông T ngồi lại với nhau ch t tiền g c và tiền lãi (BL26), cụ thể tính đến ngày 06/02/2021 thì ông T còn nợ lại ông Q 143 triệu đồng tiền lãi. Sau khi ch t nợ xong thì ông T tr cho ông Q 13 triệu đồng, ông T còn nợ lại ông Q 130 triệu đồng tiền lãi.
- Ngày 28/10/2021, ông Q và ông T ký với nhau hợp đồng vay tiền với s tiền vay là 600 triệu đồng, kỳ hạn vay từ ngày 02/10/2021 đến ngày 01/01/2022, lãi suất 0%, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng B.
Căn cứ kho n 2 Điều 92 Bộ luật T tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không ph i chứng minh.
[3.2] Đ i với việc ông Q yêu cầu ông T tr s tiền 600 triệu đồng, xét thấy:
Tại phiên tòa, ông T thừa nhận còn nợ ông Q s tiền 600 triệu đồng, trong đó bao gồm: s tiền g c 200 triệu đồng mà ông T đã vay vào ngày 01/02/2015, s tiền g c 150 triệu đồng mà ông T đã vay vào ngày 01/02/2016, 250 triệu đồng còn lại là tiền lãi mà ông còn nợ ông Q của hai kho n vay nêu trên tính từ ngày vay đến ngày ký hợp đồng vay tiền được công chứng ngày 28/10/2021. Điều 463 Bộ luật Dân sự quy định: "Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lại nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định". Quá trình gi i quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T đồng ý tr cho ông Q s tiền 600 triệu đồng. Căn cứ Điều 5, kho n 3 Điều 72 Bộ luật T tụng dân sự, xét đây là ý chí tự nguyện của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Từ phân tích trên, xét thấy ông Q yêu cầu ông T tr s tiền 600 triệu đồng là phù hợp nên được chấp nhận.
Đ i với việc thi hành s tiền 600 triệu đồng: ông Q yêu cầu ông T tr ngay một lần s tiền 600 triệu đồng tại Tòa; ông T không đồng ý và đề nghị tr dần s tiền này. Căn cứ Luật thi hành án dân sự quy định người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Đ i chiếu quy định nêu trên, yêu cầu tr tiền của ông Q, ông T được thực hiện trong giai đoạn thi hành án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tiền lãi: Quá trình gi i quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông T không yêu cầu Tòa án xem xét đ i với s tiền lãi mà các bên đã thanh toán xong trước ngày 28/10/2021. Xét đây là ý chí tự nguyện của ông T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông Q yêu cầu ông T tr s tiền lãi của s tiền 600 triệu đồng tính từ ngày 02/01/2022 đến nay. Xét thấy, theo hợp đồng vay tiền được công chứng ngày 28/10/2021 thể hiện thời hạn vay từ ngày 02/10/2021 đến ngày 01/01/2022, lãi suất 0%, ông T thừa nhận chưa tr s tiền 600 triệu đồng cho ông Q. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự, xét thấy ông T ph i tr lãi đ i với tiền chậm tr tương ứng với thời gian chậm tr . Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định lãi suất phát sinh do chậm tr được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá lãi suất giới hạn 20%/năm của s tiền chậm tr trên thời gian chậm tr , nếu không có thỏa thuận thì lãi suất được xác định bằng 10%/năm của s tiền chậm tr trên thời gian chậm tr . Như vậy, s tiền lãi của s tiền 600 triệu đồng tính từ ngày 02/01/2022 đến ngày 04/7/2022 được tính như sau: 600 triệu đồng x (10%: 12 tháng) x (6 tháng 2 ngày) = 30.334.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông Q yêu cầu tính lãi 3%/tháng đ i với s tiền 600 triệu đồng từ ngày 02/01/2022 đến ngày xét xử là 108 triệu đồng. Như đã phân tích trên, việc ông Q yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 3%/tháng là không phù hợp theo kho n 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, do đó s tiền lãi vượt quá: (108 triệu đồng - 30.334.000 đồng) = 77.666.000 đồng không được chấp nhận.
[3.4] Như vậy, tổng s tiền ông T ph i tr cho ông Q là: 600 triệu đồng + 30.334.000 đồng = 630.334.000 đồng.
[4] Đ i với yêu cầu khởi kiện của ông Q buộc ông T ph i chịu 4%/tháng tiền lãi của s tiền tạm ứng án phí là 14 triệu đồng tính từ ngày 21/3/2022 đến nay, căn cứ Điều 244 Bộ luật t tụng dân sự, xét thấy yêu cầu này là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Xét yêu cầu ph n t của bị đơn:
Ông T yêu cầu ông Q bồi thường thiệt hại do không kinh doanh được như tiền thuê 3 công nhân 300.000 đồng/công nhân/ngày tính từ ngày 10/2/2022 đến nay, tiền thuê mặt bằng một tháng là 4 triệu đồng tính từ ngày 10/02/2022 đến nay, tổng s tiền ông Q bồi thường thiệt hại cho ông là 93 triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: từ ngày thụ lý đơn ph n t đến nay, ông T cung cấp cho Tòa án 01 USB trích xuất camera an ninh từ cơ sở nơi ông T kinh doanh và có người làm chứng là ông Đào Công Dân (công nhân làm thuê cho cơ sở của ông T). Tại biên b n lấy lời khai ngày 17/6/2022 (BL76) ông T trình bày: “... Đoạn video chứa hình ảnh, âm thanh của những người vào chỗ làm của tôi quấy rối khiến tôi bị thất thu kinh doanh (họ chửi bới, đập bàn đập ghế). Trong đoạn trích xuất của camera này không có ghi nhận ông Q có hành vi quấy rối chỗ kinh doanh của tôi…”. Tại phiên tòa, ông Q trình bày ông không có quấy r i cơ sở kinh doanh của ông T như ông T trình bày, do đó ông không đồng ý theo yêu cầu ph n t của ông T. Bên cạnh đó, tại b n tự khai của ông Đào Công D, ông D trình bày ông đã nghỉ việc tại cơ sở kinh doanh của ông T từ ngày 13/3/2022 đến nay (BL68). Qua xem xét các chứng cứ mà ông T cung cấp thấy rằng các chứng cứ này không chứng minh được có thiệt hại x y ra theo Điều 589 Bộ luật Dân sự, ông T không có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ và các kho n chi phí hợp lý, về thu nhập của người bị thiệt hại, cụ thể: đ i với việc ông bị thiệt hại do ông ph i tr tiền lương cho 03 người công nhân, mức lương 9 triệu đồng/tháng nhưng ông T không cung cấp được b ng lương, danh sách những người làm công cho ông T gồm những ai. Hơn nữa, theo lời trình bày của ông Đào Công D thì ông D đã nghỉ làm từ ngày 13/3/2022 nhưng ông T vẫn ph i tr lương cho ông Dân là không phù hợp. Đ i với yêu cầu bồi thường tiền thuê mặt bằng là 4 triệu đồng/tháng x 3 tháng = 12 triệu đồng thì ông T cũng không cung cấp được hợp đồng thuê và những chứng cứ chứng minh ông bị thiệt hại và ph i ngừng kinh doanh do ông Q gây ra. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ph n t của ông T không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội:
- Ông Q có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 77.666.000 đồng x 5% = 3.883.000 đồng.
- Ông T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự là: do yêu cầu khởi kiện của ông Q được chấp nhận nên ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của s tiền 630.334.000 đồng: 20 triệu đồng x (4% x 230.334.000 đồng) = 29.213.000 đồng; do yêu cầu ph n t của ông T không được chấp nhận nên ông T chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 93.000.000 đồng x 5% = 4.650.000 đồng. Tổng s tiền án phí ông T ph i chịu là 33.863.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊN :
Căn cứ:
- Điều 280, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Kho n 3 Điều 26, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm a kho n 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật T tụng dân sự;
- Điều 26 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q đ i với bị đơn ông Phan Nhật T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài s n, cụ thể như sau:
1.1. Buộc ông Phan Nhật T có nghĩa vụ tr cho ông Nguyễn Văn Q s tiền 630.334.000 (sáu trăm ba mươi triệu ba trăm ba mươi b n nghìn) đồng.
Kể từ khi Quyết định có hiệu lực pháp luật (đ i với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đ i với các kho n tiền ph i tr cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất c các kho n tiền, hàng tháng bên ph i thi hành án còn ph i chịu kho n tiền lãi của s tiền còn ph i thi hành án theo mức lãi suất quy định tại kho n 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q về việc yêu cầu ông Phan Nhật T tr s tiền lãi là 77.666.000 (b y mươi b y triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu ph n t của ông Phan Nhật T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Q bồi thường thiệt hại với s tiền 93.000.000 (chín mươi ba triệu) đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Q có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.883.000 (ba triệu tám trăm tám mươi ba nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp 14.000.000 (mười b n triệu) đồng theo Biên lai tạm ứng án phí s ABC ngày 21/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph B, tỉnh Bến Tre. Ông Nguyễn Văn Q được nhận lại s tiền tạm ứng án phí là 10.117.000 (mười triệu một trăm mười b y nghìn) đồng.
Ông Phan Nhật T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với s tiền là 33.863.000 (ba mươi ba triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào s tiền tạm ứng đã nộp là 2.325.000 (hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai tạm ứng án phí s XYZ ngày 01/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph B, tỉnh Bến Tre. Như vậy, ông Phan Nhật T còn ph i nộp tiếp s tiền án phí là 31.538.000 (ba mươi m t triệu năm trăm ba mươi tám nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Q, ông Phan Nhật T có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND thành ph B (1b); - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - CCTHADS thành ph B (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ, VP (4b). | TM. ĐỒN ÉT Ử SƠ T ẨM Thẩm phán - hủ tọa phiên tòa (đã ký, đóng dấu) uỳnh Thị Thanh Nhƣ |