vanban.org

Bản án 46/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn O phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn O 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn O phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2026/HS-ST
Ngày: 09-06-2026.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Hồng;

2. Ông Phạm Ngọc Nhưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3

- Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Lường Phương Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2026/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2026/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn O; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967, tại: xã Q, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã Q, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Số CCCD: 011067000382, cấp ngày 16/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Chức vụ: Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Họ và tên cha: Lò Văn H; Sinh năm: 1943; Họ và tên mẹ: Lò Thị T; Sinh năm: 1944; Cư trú tại: Bản C, xã Q, tỉnh Điện Biên; Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Cà Thị T1, sinh năm: 1969; Bị cáo có 05 người con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào xét xử, chưa bị xử phạt hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/3/2026 đến nay tại Phân trại tạm giam Tuần G - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo:

Bà Nguyễn Thị Lan - Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 01/3/2026, Lò Văn O một mình đi bộ từ nhà tại bản Có, xã Q, tỉnh Điện Biên đến khu vực cầu H, thuộc bản C, xã Q để tìm mua ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực cầu B thì O gặp, trao đổi và mua được của một người đàn ông giới thiệu tên Lò Văn C, trú tại bản Ngúa, xã Q, tỉnh Điện Biên 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau đó, O đi vào bụi tre gần khu vực cầu H mở gói Heroine vừa mua được ra đổ Heroine lên mảnh giấy bạc đã chuẩn bị từ trước rồi dùng bật lửa hơ đốt để Heroine bốc khói, sau đó hút trực tiếp vào cơ thể qua đường miệng. Sử dụng Heroine xong, O vứt mảnh giấy bạc, mảnh nilon và bật lửa xuống suối gần đó rồi đi bộ về nhà. Ngày 05/03/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ mời Lò Văn O đến trụ sở Công an xã Q, tỉnh Điện Biên để làm việc và tiến hành kiểm tra ma túy, kết quả: Lò Văn O dương tính với ma túy trong cơ thể, Cơ quan điều tra đã thu mẫu nước tiểu của Lò Văn O gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 10/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tìm thấy chất ma tuý trong mẫu nước tiểu của Lò Văn O gửi giám định: Loại Morphine (Morphine được tìm thấy khi sử dụng Heroin (Heroine), thuốc phiện hoặc trực tiếp sử dụng Morphine).

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSKV3 ngày 21 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên đã truy tố: Bị cáo Lò Văn O về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Về án phí Đề nghị: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên xét xử bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và nhất trí với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên toà: Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lò Văn O tham gia điều trị nghiện bằng thuốc thay thế Methadone tại Cơ sở điều trị Methadone Trung tâm y tế T2, tỉnh Điện Biên theo Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 24/12/2024 của Chủ tịch UBND xã Q, tỉnh Điện Biên từ ngày 26/12/2024 đến ngày 17/02/2025, sau đó đã tự ý bỏ điều trị. Ngày 01/03/2026 tại khu vực bụi tre thuộc bản Có, xã Q, tỉnh Điện Biên, Lò Văn O đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine khi đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Nguồn gốc số ma túy trên bị cáo mua của một người đàn ông tên Lò Văn C, trú tại bản Ngúa, xã Q, tỉnh Điện Biên (không biết tuổi, địa chỉ) với giá 100.000 đồng

Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) quy định:

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

……d) Đang trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.”

Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Do đó khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng tới trật tự an toàn xã hội. Tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, bị cáo hoàn toàn hiểu biết, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

Kiểm sát viên đề nghị: Xét mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người bào chữa đề nghị: Xét thấy mức hình phạt người bào chữa đề nghị cho bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với mảnh giấy bạc và bật lửa gas bị cáo dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, sau khi sử dụng xong bị cáo đã vứt xuống suối, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được; đối với mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập xử lý. Xét việc xử lý của Cơ quan Điều tra là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ, bị cáo khai mua của người đàn ông tên Lò Văn C, trú tại bản Ngúa, xã Q, tỉnh Điện Biên. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại bản Ngúa, xã Q, tỉnh Điện Biên không có người nào tên Lò Văn C do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đủ cơ sở để điều tra làm rõ, Viện kiểm sát không truy cứu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

Về án phí: Lẽ ra bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn O phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Lò Văn O 02 (hai) năm tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 12/03/2026.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2025). Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2026).

Cỡ chữ